Mùa Biển Động

Tháng Tư 10, 2010

Mùa Biển Động Chương 185

Chương 185

Từ lúc Lãng đến báo tin ngày mai sẽ khởi hành, căn nhà trở nên rộn rịp mà buồn bã như nhà có tang. Quỳnh Trang lo kiểm soát lại những thứ đã mua sắm lâu nay cho chồng mang theo. Nàng chuẩn bị kỹ quá, ai cố vấn điều gì, bảo sắm thứ gì nàng cũng nghe, nên cái xắc vải đã căng phồng mà đồ đạc bên ngoài còn cả đống, trong khi Lãng dặn đồ đạc càng gọn nhẹ càng tốt. Giả trang đi tắm biển Vũng tàu mà hành lý cồng kềnh đầy đủ, có khác nào tự nộp mạng cho Công an.

Cả nhà giấu không cho thằng Bình biết nên thằng bé cứ nghĩ nó sắp được đi tắm biển thật. Nó hớn hở được đi chơi xa một chuyến, và hơi lấy làm lạ là đột nhiên ông bà ngoại cưng chiều nó đủ điều. Bà ngoại mua phở cho nó ăn, ông ngoại dặn nó xuống Vũng tàu rán nghe lời ba, chị Thúy đi đâu thì đi theo đó. Nó khoái vì có chị Thúy cũng đi tắm biển với nó, dì Nam đã hứa cho chị Thúy đi tắm với nó cho “có chị có em”.

Trong lúc Ngữ nhờ Lãng chở xuống Thị nghè chào mẹ và vợ chồng Quế, Quỳnh Trang loay hoay không biết làm sao với đống hành lý bề bộn. Bà Thanh Tuyến phải can thiệp vào. Bà bảo hai cái gối hơi và khăn nên bỏ vào cái xách tay nhỏ cho thằng Bình mang, cho có vẻ dân đi tắm biển Vũng tàu cuối tuần. Các thức ăn không nên mang theo, vì Diễm đã lo đầy đủ phần lương thực. Diễm là chủ ghe, mang theo cả gia đình (trừ Ngô ở lại) thế nào Diễm cũng mua sắm đầy đủ, và dành cho Ngữ một số ưu đãi. Quần áo thì chỉ cần một bộ mặc trên người và bộ bọc trong bao ny lông “đề phòng tai nạn”, không cần mang thêm nhiều chỉ tốn công.

Vợ chồng Tường chở con xuống lúc Ngữ không có nhà. Sợ bịn rịn khóc lóc làm lộ hết mọi chuyện, hai vợ chồng chỉ ở lại có năm phút rồi vội vã ra về. Nam ôm Thúy khóc thầm, con Thúy cũng khóc. Nam dặn:

– Con rán học hành, và nghe lời cậu. Không có ba me, cái gì con cũng phải hỏi ý cậu. Thôi, con đi.

Tường đến ôm con, rồi vội vã ra đường như người chạy trốn. Thúy không muốn rời mẹ, hai tay cứ ôm lấy vòng lưng ấm của mẹ mà khóc, Nam gỡ tay con ra, hôn lên đôi má đẫm nước mắt của con rồi lấy khăn che mặt quay nhanh ra cửa.

Thằng Bình không hiểu gì hết, hỏi Thúy:

– Đi tắm biển một ngày, mà sao chị khóc vậy?

Thúy không trả lời, ngồi ôm cái xách tay tiếp tục khóc. Bà Thanh Tuyến tới dẫn cháu nội vào phòng. Hai ông bà xì xầm an ủi dặn dò cháu, mỗi lần thằng Bình tới gần lại im để thằng bé khỏi nghe thấy gì. Bà Thanh Tuyến bảo cháu:

– Con qua nói với cô Như là nếu có gửi quà về cho bà, thì nên chọn những thứ bên này bán được tiền mà bên đó giá rẻ. Bà có biên hết ra đây, con đọc cho thuộc rồi bà xé tờ giấy, chứ mang bên mình không được đâu. Bà không dặn cậu Ngữ vì có dặn cậu cũng quên. Con nhớ nói với cô Như nếu gửi thuốc Tây thì nên mua thuốc Pháp gửi về, bán được giá hơn thuốc Mỹ, nhất là những thứ thuốc này này… Con nhắc lại xem… Được rồi. Còn vải thì nói với cô Như là các thứ cô chọn nhã quá, bán không được giá. Chọn loại hơi sặc sỡ một chút; mình mua để bán, chứ có phải mua cho mình đâu mà chọn theo “gu” của mình. “Xoa” Pháp hiện hạ giá lắm, nói cô có gửi thì gửi bớt lại, để tiền mua thêm dầu gió xanh và Tylenol…

***

Biết chắc sáng sớm mai sẽ đi nên đêm nay nhìn đâu Ngữ cũng cảm thấy quyến luyến, từ những hàng cây cao hai bên đường Hồng Thập tự, những con đường qua lại nhiều lần chở khách đi về, cái quán nhỏ đường Phạm Ngũ Lão Ngữ thường ghé ăn cơm dĩa, khu chợ Bến thành nằm im dưới sương khuya, vỉa hè phố Lê Lợi, nhà thờ Đức Bà, đại lộ Thống nhất… Ngữ bảo em chở mình đi một vòng qua những phố chính để ghi hết vào óc hình ảnh thân yêu của quê hương. Lãng thầm chê anh lẩm cẩm nhưng vẫn kiên nhẫn chiều anh. Lãng dặn:

– Ngày mai em dẫn một nhóm người xuống giao cho bãi, nhà mình ba người, bảy người kia ở Phú lâm và Khánh hội em đã hẹn giờ để đúng 7 giờ sáng có mặt ở Hàng xanh. Mình đã thuê một chiếc xe Lam xuống Phước thắng, lên xe anh làm như không biết họ, cũng đừng nói chuyện gì cả. Em không đi chung với anh. Tới Phước thắng, em đã dặn xe Lam dừng ở đâu rồi. Em sẽ đón anh dẫn vào trốn ở nhà người ta, chờ tối lại dẫn giao cho bọn lo bãi. Anh qua trước, chắc chừng một năm sau cả nhà sẽ qua. Anh yên tâm, em sẽ lo chăm sóc má. Em cứ bảo má thôi bán xăng, nhưng má không chịu.

Lãng dặn dò nhiều nữa, nhưng ngồi sau yên xe gắn máy, Ngữ không nghe em nói gì. Những ngọn đèn đường như ủ rũ nháy mắt chia tay với Ngữ. Phố xá nhắm mắt thở dài sợ không chịu đựng được cảnh biệt ly. Mùi bụi đường trở nên thơm tho quyến rũ. Trời đầy sao. Đêm ấm áp nồng nàn.

Quỳnh Trang chờ Ngữ về để dặn dò chồng đủ điều. Ngữ đòi mặc bộ quần áo vải dày Quỳnh Trang đã bỏ lại, nhưng Quỳnh Trang bảo:

– Anh đừng mặc bộ quần áo này.

Ngữ ngạc nhiên hỏi:

– Sao thế? Bộ này vải tốt, mặc ấm hơn bộ kia.

– Nhưng bộ này anh đã mang theo học tập cải tạo. Đồ ở tù về không nên mang theo. Xui lắm!

Ngữ chợt hiểu, nhìn vợ cảm động. Ngữ hỏi:

– Vợ chồng con Nam dẫn Thúy xuống chưa?

Quỳnh Trang đáp:

– Rồi. Anh Tường gửi lời từ biệt anh. Anh đi ngủ đi, mai phải dậy sớm. Se sẽ không con nó dậy. Anh hứa với em là phải săn sóc con thật kỹ. Anh thì bớt hút thuốc lá đi. Rán giữ gìn sức hkỏe, chờ em sang. Em đã để đồng hồ báo thức. Em tắt đèn nhé.

Ngữ thì thào trong bóng tối:

– Đêm nay đâu có ngủ nghê gì được mà phải để đồng hồ báo thức.

Ngữ nằm xuống giường, xoay nghiêng ôm lấy thân thể vợ. Quỳnh Trang để yên cho chồng hôn lên má lên cổ lên ngực mình, nhưng khi Ngữ đòi nhiều hơn, nàng ngăn lại. Ngữ kinh ngạc hỏi:

– Cho anh từ biệt chứ. Sắp xa nhau đến mấy năm, em không nhớ à?

Quỳnh Trang giữ tay chồng lại, thì thào:

– Đừng anh. Mai anh đi, đừng… em sợ xui.

***

Chiếc xe Lam ba bánh dừng lại ở một khóm nhà nằm sát đường nhựa, hông xe kề sát vào vách trước của căn nhà nằm ngoài cùng. Lãng đã xuống trước chờ sẵn ở đó. Mọi người lục tục xuống khỏi xe. Lãng đẩy mười người vào nhà rồi đóng kín cửa lại. Bên ngoài, chiếc xe Lam rú ga phóng nhanh về hướng Vũng tàu.

Từ hai năm nay, dân xóm chài nghèo nàn này đã bỏ lưới bỏ dầm chuyên sống bằng nghề giấu người vượt biên, nên từ trẻ tới già ai ai cũng có vẻ hết sức “chuyên nghiệp”.

Bọn Ngữ vừa xuống xe vào nhà chưa đầy mười phút đã có những đứa trẻ tới nhận người, dẫn đường lần lượt đi gửi ở những nhà khác nằm sâu vào phía trong, sát con lạch mà Ngữ đoán sẽ dẫn ra cửa biển.

Gia đình Ngữ được gửi tại một căn nhà tôn mái thấp sàn bằng ván nằm ghếch lên bờ rạch, ngay dưới sàn qua những khe ván hở Ngữ thấy bên dưới có một chiếc sõng nhỏ đậu sát vào cột nhà, hai mái dầm nằm gọn trong lòng sõng.

Thằng Bình nãy giờ thắc mắc nhưng thấy mọi người hối hả lo lắng khác thường không dám nói gì, bấy giờ mới hỏi nhỏ con Thúy:

– Tới biển rồi hở chị?

Thúy đưa ngón tay trỏ lên môi bảo Bình im lặng, rồi nói nhỏ:

– Chưa tới biển đâu.

Thằng Bình hỏi:

– Sao không ra biển tắm mà vô đây làm gì?

Ngữ định nhân dịp này giải thích cho con biết, nhưng Thúy đã nói trước:

– Mình vượt biên chứ không phải đi tắm biển. Em nói nho nhỏ, không Công an tụi nó tới bắt đấy.

Nghe hai tiếng “công an” thằng bé hiểu liền. Từ đó nói gì nó cũng nói thật nhỏ, làm cái gì cũng sẽ sàng không để gây ra tiếng động. Nó bắt chước y như những gì bố nó đã làm khi trốn ở nhà.

Những người đàn ông trong căn nhà ván không biết đã đi đâu, trong nhà chỉ có hai mẹ con: thằng bé vừa đi đón khách và bà mẹ. Bà chủ nói thầm với Ngữ:

– Chú đừng lo. Ở nhà tôi yên lắm, miễn đừng ló mặt ra ngoài hay đừng nói lớn. Xăng dầu lên giá, đi biển không sống nổi nên cả xóm sống bằng nghề này. Mấy ổng thông cảm, lâu nay để yên cho tụi tôi làm ăn. Tụi tôi cũng biết điệu, chia chác cho mấy ổng. Đực, ra ghe đem cái lò về cho mẹ nấu cơm. Ừ, đem lò về rồi hãy đem củi sau, một lần ôm không hết đâu, lọng cọng để rơi bể cái lò. Chú với mấy cháu ăn uống gì chưa?

Ngữ đáp:

– Hồi sáng đi sớm chỉ kịp mua mấy gói xôi.

– Để tôi nấu cơm nóng ăn cho đỡ đói.

Ngữ lo lắng nói:

– Tôi chỉ đem theo mấy chục để dành đi xe nếu lỡ…

Bà chủ nhà hiểu ý, nói:

– Chú đừng lo. Bao nhiêu tiền tôi tính hết để mấy ảnh trả lại sau. Nương dựa nhau sống qua ngày vậy mà.

Ngữ hỏi:

– Thiếm đi dễ dàng sao không đi?

– Tôi chờ mấy bà con trong xóm qua bên đó coi có làm nghề được không rồi mới dám tính. Tụi tôi dân làm cá, qua bên đó mà không được đi biển thì làm sao sống. Mình đâu có chữ nghĩa mà làm thầy làm cô ở bàn giấy. Tối nay có một đám đi chính thức ở dưới bãi Lau.

– Thế à? Sao chưa thấy họ xuống?

Bà chủ nhà cười:

– Họ đi xe buýt, có Công an dẫn đường, thì cần gì phải xuống sớm nằm núp như chú. Kể có tiền cũng sướng thật. Vượt biên mà có vé, lên tàu có Công an soát vé như đi coi hát cải lương. Chắc chuyến của chú đi cùng giờ với các tàu đó. Tụi Công an lo cho chiếc tàu, không có thì giờ đi canh gác bờ biển.

Ngữ ngạc nhiên hỏi:

– Sao bên chủ bãi họ nói đã mua hết Công an rồi?

Bà chủ cười:

– Thì phải mua mới có bãi để ghé vô rước người chớ. Nhưng làm sao mua hết được. Bãi của xã, nhưng Công an huyện lo cho chiếc tàu lớn mà biết vụ của mình, tụi nó sẽ làm khó dễ để moi tiền. Rồi tụi bộ đội, rồi Công an biên phòng…

Ngữ thêm lo lắng, vội hỏi:

– Lâu nay những đám được thiếm giấu, có đám nào bị bắt không?

– Cũng có lai rai. Tùy may rủi hà!

Ngữ không dám hỏi tiếp, mà bà chủ cũng không muốn nói thêm. Thằng con trai bà chủ đã khệ nệ mang cái lò đất nung từ ghe về, sau đó nó trở ngược đường cũ ra lấy củi. Mang củi về xong, nó thì thào gì đó với mẹ. Bà chủ chờ con đi ra xong, đóng kín cửa lại bảo Ngữ:

– Không hiểu sao tụi Biên phòng bữa nay lảng vảng xuống tận dưới này. Chú nói mấy đứa nhỏ đừng cười giỡn nữa. Khi có ai tới, chú với mấy đứa nhỏ leo xuống cái cầu thang đây, xuống chỗ có tấm vải bố dở lên thì thấy có cái thuyền thúng, đó đó, chỗ đó. Kẹt lắm mới phải xuống đó núp đỡ chờ tụi nó đi khỏi. Tôi chỉ nói phòng xa, chắc tụi nó đi dọn bãi cho tàu lớn, không việc gì đâu.

Ngữ hồi hộp nằm chờ cho tới tối, nhìn đồng hồ mãi, thấy cây kim giây uể oải nhích từng chút. Thằng Bình nằm không, nhớ mẹ, khóc đòi về. Con Thúy dỗ không được, cũng mếu máo khóc. Ngữ phải nạt nhỏ hai đứa mới nín, rồi nằm bên nhau tỉ tê nói thầm với nhau những gì Ngữ không nghe rõ. Ngữ giết thì giờ bằng cách soạn xách tay kiểm lại những thứ Quỳnh Trang đưa theo. Chàng sung sướng thích thú đến chảy nước mắt khi bắt gặp ở dưới đáy xách một cái gói mềm mềm bọc kín bằng bao ny lông, Ngữ vừa mở gói vừa hồi hộp. Chàng đoán đúng: Quỳnh Trang gửi cho chồng đem theo cái áo lót thơm mồ hôi của mình.

Ngữ đưa chiếc áo lên mũi ngửi, mỉm cười nhớ lại đêm qua. Quỳnh Trang lúc đầu từ chối không cho Ngữ ân ái, chỉ nằm yên cho chồng sờ soạng khắp thân thể mình. Những cái vuốt ve của Ngữ làm thân thể nàng ấm lên, lời dặn dò pha lẫn với hơi thở nóng. Nàng bị cuốn vào cảm xúc, quên hết những điều dị đoan, quên cả nỗi lo tiếng động kẽo kẹt của cái giường gỗ đánh thức ông bà Thanh Tuyến và hai đứa trẻ. Lâu lắm Quỳnh Trang mới tìm lại được cảm giác khoái lạc của nhục dục, cảm giác đó càng lớn lao khi nàng chợt nghĩ đây là đêm cuối cùng hai vợ chồng được ôm ấp nhau, được nếm vị ngọt trên môi nhau, được áp má vào da thịt ấm của nhau, được chia sẻ cho nhau cuống quít dạt dào và ê ẩm lâng lâng…

Bên ngoài cửa ván, trời bắt đầu tối. Nước thủy triều lên, sóng đập vào cột nhà phát ra tiếng động lách chách đều đặn, lâu lâu lườn chiếc sõng con theo sóng cọ vào cây cột gỗ, tiếng trầm và nghẹn. Mùi bùn non hết còn bốc lên như ban ngày, gió làm cuộn lên một mùi rêu tanh pha muối.

Lãng trở lại đúng giờ hẹn, làm cho Ngữ tin tưởng chuyến đi sẽ thành công vì xếp đặt quá chu đào. Lãng nhắc lại với anh là chủ bãi nhờ Lãng dẫn toán của Ngữ đến điểm hẹn giao cho họ, sau đó họ sẽ dẫn đến chỗ nằm chờ “taxi” đến rước đưa ra ghe lớn. Phần Diễm được bốn toán, mỗi toán mười người. Gia đình Diễm đi ở toán khác. Lãng cũng không biết hiện toán của Diễm nằm ở đâu.

Lãng tập trung đông đủ mười người rồi dẫn cả toán đi dọc theo con lạch thật lâu. Mọi người hồi hộp cứ lẫm lũi bước, không ai nói gì. Cả lũ trẻ cũng im lặng. Trời tối, đường đất mấp mô nên đoàn người bước thật chậm trong đêm. Sau hơn một giờ đồng hồ, họ tới cuối con đường đất. Lãng bảo mọi người dừng lại, ngồi xuống chờ. Ngữ thì thào hỏi em:

– Anh cứ tưởng chỉ việc xuống mấy cái sõng cột dưới nhà là đi một mạch ra ghe lớn.

Lãng đáp:

– Không dễ như vậy đâu. Chốc nữa anh phải lội sình một chặp nữa mới tới chỗ “taxi” đón. Bãi đón khách phải đổi luôn, chỗ càng khó tới càng an toàn, anh hiểu?

Một bóng đen từ xa tiến lại, Lãng đứng dậy, thì thào hồi lâu với người lạ, rồi trở về chỗ Ngữ nói:

– Thôi, anh đi. Sang năm em sẽ đưa má qua. Hai cháu tới cho cậu hôn rồi đi. Thúy, cháu không được khóc. Cậu sẽ đưa ba me qua cho cháu. Ừ, cậu hứa!

Lãng vội trở lại con đường cũ cho lũ trẻ khỏi bịn rịn. Ngữ nhìn theo bóng em dần dần chìm khuất trong màn đêm, lòng bùi ngùi.

Người lạ bảo cả toán cởi dép xăn quần lên, rồi bắt đầu lội sình tới bãi “taxi”. Ngữ ẵm con lên tay, một tay dắt con Thúy. Nhưng sức nặng ấn sâu bàn chân Ngữ xuống sình, rút chân lên khó khăn, Ngữ phải bỏ con xuống. Thúy và Ngữ đi hai bên nắm tay thằng Bình giúp nó đi nhanh cho kịp những người khác.

Tuy gió đêm thổi lạnh, nhưng nỗi mệt nhọc làm ai nấy đều thở dốc, hơi nóng tỏa lên đầu mũi, tai lùng bùng. Không biết họ lội bùn như thế bao lâu và đi được bao xa, cuối cùng cả toán dừng lại khi tới chỗ đất khô có lùm cây mọc là đà, bên mé nước. Người hướng dẫn bảo cả toán tìm chỗ núp dưới những lùm cây đó, khi nào “taxi” tới thì leo lên để ra ghe. Ngữ hỏi:

– Chờ lâu không?

Người hướng dẫn đáp:

– Chừng nửa giờ nữa. Nhớ nằm im đừng ai nói năng gì.

Nói xong, người hướng dẫn bỏ đi. Thúy thì thào hỏi cậu:

– Sao ổng bỏ mình lại đây hở cậu?

Ngữ đáp:

– Ổng xong phận sự rồi. Mỗi người chỉ lo một phần thôi.

Thằng Bình nổi cơn ho. Thúy vội lấy lọ dầu nóng xoa lên cổ và ngực thằng bé. Ngữ dỗ con:

– Con rán chờ ra tàu có chỗ nằm ngủ. Ngoan lên nào. Đừng khóc.

Thắng Bình nín khóc nhưng miệng vẫn gọi “Me ơi! Me ơi” nho nhỏ. Ống quần ướt nước thấm vào da thịt, lại thêm gió đêm thổi thốc từng cơn nên mọi người ru lập cập. Thằng con lên hai của chị đi cùng toán khóc ré lên, người mẹ bị cả toán la rầy vừa mếu máo dỗ con vừa phân trần:

– Tui mua phải thuốc ngủ giả, cho nó uống tới hai viên mà nó không ngủ. Nín đi con! Nín đi con!

Thằng bé ậm ừ như mắc nghẹn, có lẽ người mẹ đã nhét núm vú vào miệng con. Ngữ nóng ruột lâu lâu đưa tay lên nhìn mấy cây kim dạ quang của đồng hồ. Một giờ, rồi một giờ rưỡi sáng. Rồi hai giờ. Trên con rạch trước mặt, sóng vẫn đập lách chách. Đến hai giờ rưỡi, cả toán vui mừng vì nghe tiếng động cơ nổ dội từ xa, mỗi lúc một gần. Ngữ bảo con và cháu:

– Taxi tới rồi.

Cả toán đứng hẳn dậy. Chiếc ghe nhỏ taxi hiện ra rõ hơn, ngoài tiếng máy nổ lạch xạch còn nghe được cả tiếng chiếc ghe gắn máy rẽ nước tiến tới.

Chiếc ghe tiến gần, gần hơn nữa, máy nổ chậm lại. Ngữ rộn rã vui, cúi xuống nhấc cái quai xách tay quàng lên vai chuẩn bị lên đường. Đúng lúc đó chàng ngỡ ngàng nhận ra rằng hai người đứng trên taxi đều cầm súng. Tiếng lên đạn lách cách… rồi tiếng la lớn:

– Đù mẹ trúng mánh rồi tụi bay ơi! Dân vượt biên! A ha!

Ngữ không kịp suy nghĩ gì nữa, kéo con và cháu chạy ra bờ rạch. Phía sau lưng lại có tiếng la lớn:

– Đù mẹ định chạy hả? Đứng lại.

Ngữ đã chạy hết mô đất cao. Trước mặt là bãi sình. Không còn cách nào khác, Ngữ nắm chặt tay Thúy và thằng Bình nhảy xuống sình chạy trốn. Súng bắt đầu nổ. Ngữ cứ lao người về phía đêm đen trước mặt, bất chấp mọi sự. Chàng không còn biết cái gì đang xảy ra, không còn biết mình đang làm gì. Đột nhiên giữa cái hoang mang bập bềnh chung, Ngữ cảm thấy lưng nhói đau. Đôi bàn chân dưới bùn sâu tê dại. Ngữ cố sức mà không rút chân lên nổi. Rồi mắt Ngữ hoa, mũi Ngữ mát lạnh và ngầy ngật mùi bùn. Ngữ cố hết sức xoay người để thở, lưng lại lạnh buốt. Hình như Ngữ nghe thấp thoáng được tiếng khóc. Phải rồi, tiếng khóc chợt rõ mồn một; mà có tới hai giọng khóc khác nhau chứ không phải một. Một giọng khóc nhỏ và thanh. Một giọng lảnh lói, như những mũi kim xuyên vào da thịt Ngữ. Mắt Ngữ thấy những hình ảnh chập chờn không rõ nét, hình nọ chập lên hình kia. Hình như Ngữ thấy hình ảnh một dòng sông, rồi hình ảnh một người thiếu nữ đang khóc. Mây ở đâu cuồn cuộn kéo về phủ mất hình ảnh thiếu nữ, đến khi mây trôi qua hết Ngữ lại thấy một khu rừng đang bốc cháy, rồi một đàn hươu cao cổ ló đầu lên khỏi đám lửa dáo dác nhìn quanh…

Sáng hôm sau giữa lúc Quỳnh Trang thắp hương lên bàn thờ Phật lâm râm cầu nguyện cho chồng con ra đi bình an, thì ngoài khơi Vũng tàu, Diễm bật khóc khi biết toán của Ngữ bị chủ bãi nhẫn tâm bỏ lại, để lấy thêm mười người khách cho phần họ. Qua màn lệ, Diễm thấy ngọn hải đăng Vũng tàu ngày càng bé lại, bé lại, cuối cùng chỉ còn là hư không. Biển lại nổi sóng. Chiếc ghe nhỏ lảo đảo bập bềnh như người say!

Bắt đầu viết ngày 28 tháng 1 năm 1982 tại đảo Kuku – Nam Dương
Viết xong ngày 2 tháng 6 năm 1989 tại Orange County – Hoa Kỳ

HẾT

OCR04122009-23032010

Mùa Biển Động Chương 184

Chương 184

Một hôm Ngữ dừng chiếc cyclo trước tiệm trà ghé uống nước trước khi đi tìm khách, chàng thấy Lãng từ trong nhà đi ra. Thấy anh, Lãng có vẻ bối rối, chỉ chào hỏi lấy lệ rồi leo lên xe đạp đi luôn.

Vào nhà, Ngữ thấy không khí có vẻ khác thường. Bà Thanh Tuyến đang nói chuyện gì đó với Quỳnh Trang, thấy Ngữ vào cả hai đều ngưng nói, sắc mặt ngượng nghịu như vừa bị bắt quả tang đang làm điều gì không phải. Ngữ muốn hỏi vợ, nhưng có mặt bà Thanh Tuyến Ngữ đành giả vờ như không thấy gì, tìm nước uống xong lấy xe đi.

Buổi tối vì có một hành khách đi xe lửa về tận Phú lâm, nên mãi mười một giờ đêm Ngữ mới về. Cả nhà đã đi ngủ, trừ Quỳnh Trang. Ngữ chỉ mong có thế. Chàng muốn biết chuyện gì đã xảy ra mà bà Thanh Tuyến lẫn Quỳnh Trang muốn giấu.

Quỳnh Trang rủ chồng đi dạo. Đèn đường hư gần hết, lâu lâu mới có một ngọn đèn mờ vì nguồn điện yếu ớt. Quỳnh Trang không chờ Ngữ hỏi, buồn rầu bảo chồng:

– Khi trưa me hỏi em điên hay sao mà cho anh đi với nó. Em nói với me là thấy anh đạp cyclo cả ngày khổ cực mà tối ngủ không yên giấc, nghe tiếng kẹt cửa cũng giật mình, em sống không đành. Thà để anh đi may ra còn có chút tương lai, em với con qua sau cũng được. Còn nếu anh không nghĩ tới vợ con, không nghĩ đến mấy năm khổ cực có nhau, thì…

Quỳnh Trang nghẹn lời không nói hết câu. Ngữ ngơ ngác không hiểu vợ nói gì, nắm vai vợ giữ lại rồi xoay người Quỳnh Trang đối diện với mình, vội vã hỏi:

– Em nói gì anh không hiểu. Đi đâu? Nó là ai?

Quỳnh Trang nhớ ra là Ngữ chưa biết chuyện, nên nói lại từ đầu:

– Sáng nay Lãng lên nhà gặp em với me. Anh cũng biết mấy tháng nay thằng Lãng làm cho con Diễm. Nay chiếc ghe đã hạ thủy, sắp lấy được giấy phép. Con Diễm hứa cho thằng Lãng đi không. Lãng không muốn đi bây giờ, vì lâu nay nó quen dẫn mối vượt biên, tiền đang kiếm được khá. Nó nói nó giấu anh, vì anh nhát, sợ anh can. Nó định để dành tiền đủ sẽ tự mình đóng ghe đưa cả nhà đi, kêu thêm khách lấy tiền làm vốn qua bên đó buôn bán. Nó không nhận cái chỗ con Diễm cho thì uổng quá, nên nó lên hỏi em xem có bằng lòng để anh đi trước không. Sẵn có me ở đó, em hỏi me, me bảo đừng nên để anh đi với con Diễm. Em hỏi thật anh, lâu nay anh có gặp nó không?

Ngữ vội chối:

– Gặp làm gì? Còn đi đâu mà không có em và con, anh không đi. Diễm có lần hỏi anh có đi không? Anh dứt khoát từ chối.

Quỳnh Trang vội hỏi:

– Nó hỏi anh hồi nào?

Ngữ biết mình lỡ lời, vội chữa:

– Thật ra không phải Diễm hỏi anh. Diễm nài nỉ Ngô đi với gia đình. Thằng Ngô không dám đi, sau vụ Mười Chí qua Thái lan bị đòn như em biết. Sẵn câu chuyện, Ngô hỏi anh có ý định đi không, để Ngô nói giúp với Diễm cho.

– Nhưng sao thằng Lãng bảo con Diễm nhờ nó lên hỏi em có đồng ý cho anh đi không?

– Chắc thằng Lãng không đi, nên Diễm mới hỏi như vậy. Người ta có nghề nghiệp, Anh văn giỏi, qua Mỹ còn kiếm nghề mưu sinh được. Anh qua đó làm gì! Có em cùng đi, vợ chồng nương tựa nhau, may ra.

Quỳnh Trang sung sướng nghe Ngữ nói nịnh, nét mặt hết buồn rầu. Nàng nói:

– Nếu anh còn nghĩ tới mẹ con em, nếu anh còn biết nghĩ… thì theo em, anh nên đi chuyến này. Nếu còn tiền, em đã lo tìm chỗ khác cho anh đi. Nhưng chỗ nào em hỏi họ cũng đòi năm, sáu cây cả. Nay Diễm nó cho đi không, bỏ cũng uổng. Anh này…

– Gì hở Trang?

– Em với me tính thế này, anh nghe có được không. Em sợ anh qua bên đó một mình chịu không nổi cô đơn, đâm đốn, tính anh em còn lạ gì. Nên em sẽ năn nỉ con Diễm để anh dẫn con theo. Nó cho nợ thì em viết thư cho Quỳnh Như, đến nơi Như sẽ xoay tiền trả cho con Diễm. Em chưa nói vì còn chờ hỏi ý kiến anh. Em nghĩ nếu nói với con Diễm, chắc nó bằng lòng cho con đi với anh. Con Diễm cũng không lòng dạ nào đòi tiền con Như đâu, vì con Như nuôi giùm con con Diễm mà! Hai cha con qua đó sống với nhau, anh chăm sóc dạy dỗ con cho nó học hành, chờ em với thầy me qua sau. Xa con em đau lòng lắm, nhưng ở lại trước sau gì nó cũng tới tuổi nghĩa vụ. Anh đừng cười. Con lên mười rồi, tám năm nữa có là bao. Anh bằng lòng nhé? Mai em tìm gặp con Diễm nói với nó. À không, em sẽ nhờ Lãng nói trước với nó, nếu nó bằng lòng em tìm gặp nó sau.

Ngữ vội nói:

– Anh đã bằng lòng đi đâu!

– Chứ ở lại đây làm gì?

Ngữ định đem những điều trước đây từng nói với Ngô để nói với vợ. Nhưng chàng chợt khám phá một điều: các lập luận tưởng như vững chắc cao cả đó giờ đây trở nên gượng ép, giả tạo. Ngữ đã lập luận như vậy vào lúc biết chắc mình không có điều kiện để đi. Khi phải ở lại chịu đựng, Ngữ dùng trí thông minh để quàng vào số phận hẩm hiu ấy một ý nghĩa cao cả: nào ra đi là chạy trốn, là đào ngũ, là bật gốc khỏi đất mẹ để suốt cuộc đời còn lại lơ láo thui thủi nơi xứ người; nào ở lại là can đảm chấp nhận thân phận chung để nếu không làm được gì thì cũng dùng ngòi bút ghi lại các tang chứng của lịch sử; nào quê hương là chỗ ta cảm thấy có ích… Bấy nhiêu từ ngữ cao cả, bấy nhiêu lý luận chặt chẽ đột nhiên rệu rã, mong manh phù du, chỉ còn lại lòng náo nức một cuộc sống mới. Ngữ lúng túng một hồi mới tìm được lời đáp vợ:

– Dù không được gì nhưng ngày ngày còn có em có con bên cạnh. Biết đi có lọt không, rủi ra lại tù tội. Nếu đi lọt, lại phải xa em không biết bao lâu nữa.

Quỳnh Trang nắm tay Ngữ, an ủi vỗ về như chị an ủi em:

– Anh rán chịu đựng một thời gian thôi. Anh và con đi xong, hoặc em cũng tìm cách đi theo. Hoặc em chờ Quỳnh Như bảo lãnh đi một lần với thầy me. Ở lại đây họ có cho anh sống yên đâu!

***

Mọi sự đã được dàn xếp êm đẹp. Diễm bằng lòng cho Ngữ và cháu Bình đi, với điều kiện là khi nào Quỳnh Trang qua Mỹ, Quỳnh Trang phải trả lại Diễm phần tiền chỗ của thằng Bình. Diễm lên giọng đàn chị nói vói Quỳnh Trang:

– Em muốn cái gì cũng phải phân minh. Em hùn hạp làm ăn nhiều, dù quen thân nhau bao nhiêu đi nữa hễ tiền bạc không phân minh ngay từ đầu thì về sau cũng thù ghét nhau. Cái ân của con Như đối với em, em sẽ tính với nó. Chị nhờ con Như trả hộ, chắc con Như không nỡ từ chối, nhưng làm sao em ngửa tay lấy tiền của nó được. Khi nào chị sang được, chị trả cho em số tiền Mỹ kim trị giá hai lạng vàng.

Quỳnh Trang bực mình vì cái giọng kẻ cả của Diễm, nhưng đành dằn lòng làm ra vẻ hớn hở, cảm ơn Diễm rối rít.

Nàng bắt đầu chuẩn bị mọi điều cho sẵn sàng, để hễ Diễm báo tin là cha con Ngữ lên đường.

Khác với vẻ hăng hái ban đầu, từ khi biết chắc chồng con sẽ đi, lúc nào Quỳnh Trang cũng như người mất hồn, nói trước quên sau, cầm cái kéo trên tay mà cứ đi tìm kéo từ nhà trước ra nhà sau. Bà Thanh Tuyến phải gắt:

– Mày làm gì như người bị ma bắt vậy? Đã bằng lòng cho nó đi thì phải vui vẻ cho nó yên tâm ra đi, chứ giữ bộ mặt đưa đám đó lỡ nó đổi ý…

Quỳnh Trang thút thít khóc:

– Con lo lắm, không biết ảnh đi có lọt không. Chị Mai đằng quán cà phê Mơ bảo con tụi công an bán bãi lưu manh lắm. Tụi nó lấy tiền xong, rồi chính tụi nó cho người vây bắt. Thằng em của chị ấy tốn bốn cây nộp cho chủ ghe, bị bắt lại phải tốn thêm ba cây nữa mới ra tù. Anh Ngữ mà bị bắt lại chắc ở tù mục xương.

Bà Thanh Tuyến đã sờn lòng, nhưng thấy con gái lo lắng quá, phải nói cứng:

– Một trăm chuyến đi thì cũng phải có một chuyến bị rủi ro. Me nghe người ta dặn mỗi người đi nên mang theo chiếc nhẫn một chỉ. Nếu bị công an du kích vây bắt, tháo nhẫn nộp cho tụi nó thì tụi nó cho về, khỏi dẫn về giao cho Công an lôi thôi. Con nhớ làm cho thằng Ngữ chiếc nhẫn.

– Dạ. Con đã chạy đi hỏi để sắm cho đủ: đường chanh sấy khô này, sữa bột này, vitamin C này, thuốc say sóng này, bao ny lông để hứng nước mưa này…

– Nhớ mua hai cái bao ny lông loại lớn và dày để cha con nó đựng hai bộ quần áo và hai đôi dép. Bà Thảo dưới Đakao dặn mẹ như vậy. Bả bảo con trai bả bị bắt dưới Vũng tàu chỉ vì không biết lo trước. Chiếc ghe đi được một ngày thì bị bão, sóng đẩy trở vô Bãi Sau. May là bờ biển vắng, người ta nhào xuống chạy trốn được khá đông. Con trai bà Thảo cũng chạy trốn được, nhưng bị Công an Vũng tàu bắt vì quần áo ướt nhẹp, chân lại không có đép. Mình vào bờ, mặc quần áo khô chân đủ dép đủ giầy, ai mà nghi.

Quỳnh Trang cau mày cằn nhằn:

– Nãy giờ me bàn toàn chuyện rủi ro không à! Con đã lo, me còn…

Bà Thanh Tuyến thấy mình vô ý, nhưng cố nói thêm:

– Thì cứ lo hết mọi điều, cả chuyện rủi ro nếu biết lo trước cũng không hại gì. Nhớ bảo cha con nó mang theo cái áo ấm. Ban đêm ngoài biển lạnh lắm.

– Dạ, Con đã để riêng ra rồi. Con có mua tấm ny lông để làm áo mưa, nếu cần,trải ra ngủ cũng được.

– Ối, chỗ đâu đặt lưng mà ngủ. Nhưng cứ đem theo, lỡ mưa gió. Bỏ thêm vào xắc cho hai cha con chai đầu gió. Cả trăm mạng người chen chúc dưới hầm tàu, có dầu xoa vào mũi đỡ thấy mùi hôi. Mua cho hai cha con hai cái gối hơi kê lưng ngồi cho khỏi mỏi. Loại gối cao su thổi hơi vào đó. Làm gối cũng được, hữu sự làm phao cũng tốt.

Quỳnh Trang kêu lên, nét mặt hớt hải:

– Me!

Một lần nữa bà Thanh Tuyến lại lỡ lời, nói gở!

***

Ngữ chuẩn bị ra đi một cách khác, lãng đãng tài tử chứ không cụ thể chi li như cách của vợ. Ngoài những người trong gia đình, chàng không dám cho ai biết. Dĩ nhiên trong đám bạn hữu thường đi lại với Ngữ, Ngô biết. Chiếc ghe đã có giấy phép, tài công đã lái ghe xuống Bến đá- Vũng tàu cào tôm chờ ngày thuận tiện. Bên phía lo bãi đã móc nối với Công an, du kích và theo lời họ khoe khoang, chỗ nào cũng ăn ngập mày ngập mặt nên bãi hoàn toàn an ninh. Vấn đề còn lại là làm sao dẫn khách tới bãi đầy đủ và an toàn đúng giờ hẹn.

Vì không biết ngày nào đi, nên Ngữ không đạp cyclo nữa, chỉ nằm nhà chờ. Đi đâu Ngữ phải cho Quỳnh Trang biết giờ về và chỗ đến. Thời gian đó Ngô thường lên hiệu trà rủ Ngữ đi uống cà phê ở Ngã bảy. Quỳnh Trang yên lòng khi Ngô rủ Ngữ đi, vì nếu Diễm đi thì Ngô phải biết.

Ngô được Diễm mua biếu cho chiếc xe gắn máy Suzuki nên có phương tiện đèo Ngữ đi khắp nơi, gọi là đi để nhớ lần cuối cảnh vật quê hương. Ngô nói với bạn:

– Qua bên đó, mày sẽ tiếc nếu bây giờ không đi thăm cho nhiều chỗ. Mày đừng xem thường. Hồi ra Hà nội tao nhớ đến da diết giọng rao chè của các chị bán chè đêm ở công viên Phú Văn lâu. “Ai ăn chè đậu xanh bột lọc nước dừa đường cát không?” Mày chú ý tới cách các chị bán chè cất cao giọng trong vắt thánh thót khi đến tiếng “không” ở cuối câu. Đẹp vô chừng. Thơ vô chừng!

Ngữ thích thú đáp:

– Phải. Tiếng rao của Huế mình là một lời ca. Mấy bà rao bánh nậm bột lọc cũng thật đặc biệt. “Ai ăn bánh nậm bột lọc?” Cuối lời rao cụt ngủn chấm dứt bất ngờ, nhưng bù vào đó, tiếng “ai” ở đầu câu thật êm ả, thân ái. “Ai ăn bánh nậm bột lọc?”

– Không biết chừng qua bên đó mày viết về quê hương còn tha thiết hơn mày viết ở đây. Ừ, mà liệu mày viết được không?

– Tao không rõ. Còn ai đọc không? Và viết cái gì?

Ngô trố mắt nhìn Ngữ:

– Mày nói gì lạ thế? Có biết bao điều đáng viết mà mày chưa viết. Đến khi được tự do viết, mày lại hỏi viết cái gì?

Ngữ cãi lại:

– Nhưng viết phải có người đọc. Liệu ở nước ngoài còn có người đọc tiếng Việt không?

– Sao lại không! Bên đó có nhiều báo, hình như cả trăm tờ thì phải. Báo ra nhiều tức là còn nhiều người chưa quên tiếng Việt. Chỉ sợ mày ham làm giàu không viết được thôi.

Ngô vô tình chạm điều Ngữ vẫn thường lo âu. Ngữ nói:

– Tao tài cán gì mà làm giàu. Cái tao lo là không viết được như tao mong ước. Vì sao hả? Trả lời không dễ đâu. Không phải hễ thoát được khỏi vòng phấn của mấy ông Tuyên huấn là viết ào ào. Nhiều nhà văn Liên sô hay Đông Âu khi còn ở trong nước sống chui sống nhủi, viết lén in lậu mà tác phẩm ngùn ngụt lửa, giá trị cao. Khi ra nước ngoài rồi thì viết xuống hẳn. Hình như chỉ khi nào bị đàn áp đè nén, người ta mới dồn hết sinh lực vào đầu ngòi bút, mới quý từng chữ viết ra. Khi được tự do, chữ nghĩa rẻ rúng, không thấy có gì quan trọng đáng để cặm cụi nữa.

– Mày nói gì thế? Solzhenitsyn vẫn tiếp tục viết.

Ngữ cãi lại:

– Nhưng ông ấy cảm thấy lạc loài hơn là lúc còn ở Nga. Lúc chưa bị trục xuất, một lời nói của ổng lọt ra là cả thế giới lắng nghe, rồi vỗ tay tán thưởng. Bây giờ ổng hét vào tai người ta vẫn làm ngơ. Hình như người ta thích ổng ở tù hoài để họ đứng bên ngoài la ó hơn là thấy ổng được thong dong tự do. Ối, nhưng hơi đâu bàn chuyện trên trời dưới đất. Tao tài cán gì mà lớn lối.

Ngữ không dám để bạn đưa đi quá xa, vì thành thật tự xét mình, chàng thấy chuyện viết lách không hề là động cơ chính để chàng bằng lòng ra đi. Chàng có thể giả dối với ai khác, nhưng không thể giả bộ đối với Ngô.

***

Quỳnh Trang cứ lo Ngữ bị Công an làm khó dễ đúng vào lúc Diễm báo tin đi, nên như người bị chứng tự kỷ ám thị, nhìn đâu nàng cũng thấy Công an. Nàng gầy xọp, hốc hác, đêm cứ trăn trở không chợp mắt. Ngữ đi đâu, Quỳnh Trang đứng ngồi không yên, chỉ lo chồng bị bắt. Nàng lo ngại cũng phải, vì Công an có thể bắt giữ Ngữ bất cứ lúc nào. Ngữ sống bất hợp pháp ở Sài gòn, lại thuộc thành phần cải tạo. Cái giấy tạm tha bọc trong túi không phải là lá bùa hộ thân mà ngược lại. Nhà nước tạm tha cho chàng về để “lao động sản xuất” chứ không tạm tha để về “ăn bám xã hội”. Thật là cái tội tày đình.

Ngữ ở nhà, Quỳnh Trang cũng lo, ai gọi cửa là nàng xanh mặt, nhất là về đêm. Một tối đã gần giờ giới nghiêm, Quỳnh Trang nghe có tiếng xe gắn máy dừng trước cửa hiệu trà, sau đó có tiếng gõ cửa. Ngữ đã ngủ, Quỳnh Trang hốt hoảng lay chồng dậy, giục Ngữ xuống nhà cầu lánh mặt vì nàng sợ Công an đi xét sổ hộ khẩu. Chờ cho Ngữ trốn xong, Quỳnh Trang mới ra nhà trước. Ai đến vào giờ này, lại đi xe gắn máy nếu không phải là thằng Công an khu vực? Những người thân quen với gia đình không ai đủ tiền mua xăng để đi xe gắn máy. Chiếc Suzuki của Ngô nổ tiếng máy khác hẳn, Trang biết. Người gõ cửa đi xe Honda dame. Quỳnh Trang nghe tiếng máy nổ từ xa đã đoán chắc như vậy. Ai? Ai?

Quỳnh Trang vừa mừng vừa lo khi biết Nam đang chờ mở cửa.

Quỳnh Trang lật đật mở khóa, hỏi bạn:

– Trời ơi! Có việc gì gấp không mà lên vào giờ này?

Nam đẩy chiếc Honda vào trong nhà, đáp:

– Có chuyện cần. Anh Ngữ đâu?

Quỳnh Trang sợ đến đứng tim, vội hỏi nhỏ:

– Có chuyện gì anh Tường cho biết phải không?

Nam thấy chị dâu quá lo, vội nói:

– Không có gì đâu. Nam xuống hỏi anh Ngữ một chút cho biết rồi về liền. Trang vào đánh thức anh dậy giúp mình. Anh ngủ rồi hả?

Quỳnh Trang xuống nhà cầu gọi chồng lên. Ngữ lo lắng đứng bên vợ chờ Nam nói. Nam bị xúc động, giọng run và khao khao:

– Anh đi, cho em gửi con Thúy theo được không?

Hai vợ chồng Ngữ kinh ngạc, vì bất ngờ. Ngữ hỏi:

– Sao lại cho cháu đi?

Quỳnh Trang thì hỏi:

– Anh Tường chịu cho đi à?

Nghe nhắc tới Tường, Ngữ đâm giận. Từ ngày Ngữ rục rịch chuẩn bị đi, không bao giờ Tường về đường Lý Thái Tổ. Ngữ nghĩ Tường sợ bị liên lụy, trong lòng vẫn có ý chê Tường hơi yếu. Ngữ hỏi:

– Sao Tường không chở em xuống đây?

Nam nói:

– Việc này em tự lo tiện hơn. Nếu anh bằng lòng hứa với em qua đó chăm sóc giùm cho cháu… (nói đến đây, Nam nghẹn lời) ngày mai em sẽ tìm con Diễm nói với nó.

Quỳnh Trang hỏi:

– Nhưng anh Tường bằng lòng à?

Nam không trả lời bằng lời, chỉ gật đầu. Một lúc lâu về sau, Nam vừa thút thít vừa nói:

– Xa con em đau đến đứt ruột, nhưng vợ chồng em đã bàn tính kỹ, cho nó đi may ra tương lai nó khá hơn, chứ ở đây… Anh đi còn có ngày đoàn tụ với chị, còn em cho cháu đi thì… vĩnh viễn không mong có ngày gặp lại cháu nữa. Xót xa lắm (Nam lại khóc). Nhưng thà như vậy còn hơn. Có anh, em yên tâm. Anh qua trước, ít lâu nữa Lãng nó tìm cách đưa má với vợ chồng con Quế đi, Thúy có các dì các cậu đông đủ, cũng đỡ.

Quỳnh Trang hỏi:

– Còn chuyện tiền bạc cho cháu đi, Nam lo được à?

– Em sẽ năn nỉ con Diễm, nó lấy rẻ rẻ cho. Anh bằng lòng, em sẽ đi mượn con Quế hoặc thằng Lãng. Em lo được, quan trọng là anh Ngữ chịu hứa thay em chăm sóc giùm cháu. Tính cháu ham vui qua đó không có người kèm, sợ cháu nó hư đi.

Ngữ cảm động, nắm tay Nam nói:

– Được, anh hứa, Nam về đi, giờ giới nghiêm sắp tới rồi.

__________________________

Tháng Tư 9, 2010

Mùa Biển Động Chương 183

Chương 183

Quỳnh Trang hớt hải chạy vào buồng dí tờ Sài gòn Giải Phóng bắt Ngữ đọc. Ngữ lướt qua tám trang tờ nhật báo khổ lớn, thấy chỉ có những tin, bài thông thường về “tội ác của bọn bành trướng Bắc kinh”, “nghĩa vụ quốc tế thiêng liêng ở Kampuchia”, “thành quả bước đầu của công tác cải tạo công nghiệp ở các tỉnh miền Nam”… quay lại hỏi vợ:

– Có gì đặc biệt đâu mà em bảo anh đọc?

Quỳnh Trang cáu kỉnh nói:

– Anh sống với tụi nó sáu năm nay mà chẳng thấy gì cả. Anh xem đây. Chỗ này nhân dân phát hiện bọn xấu dùng cyclo tiếp tay với bọn gian thương lũng đoạn thị trường phá hoại chính sách cải tạo thương nghiệp của Nhà nước, chỗ này nhân dân phát hiện một sĩ quan ngụy đạp cyclo, chở bột của Nhà nước đem bán cho bọn xấu, a tòng ăn cấp tài sản xã hội chủ nghĩa, chỗ này nhân dân phản ảnh lên Ủy ban Phường là bọn xấu giả dạng phu cyclo thường tụ họp nhau ở đường Đồng khánh tuyên truyền cho bọn bành trướng Bắc kinh, tranh châm biếm lại đem ông cyclo ra giễu: khi tụi nó đồng loạt đăng tin “nhân dân phát hiện”, “nhân dân phản ảnh” nghĩa là tụi nó chuẩn bị “đánh” giới nào đó. Hồi đánh tư sản cũng vậy. Anh, đừng đạp cyclo nữa.

Ngữ đọc kỹ lại tờ báo, công nhận vợ nói đúng. Chàng than:

– Họ nỡ lòng nào “đánh” giới nhà nghèo đổ mồ hôi để đổi lấy bát cơm thế này hở Trờì! Anh còn biết làm gì nữa đây!

Quỳnh Trang cũng rơm rớm nước mắt, nói với chồng:

– Thật em không hiểu nổi! Hễ dân kiếm được kẽ hở nào để thở là tụi nó bịt lại. Sao tụi nó thù dân buôn bán đến thế! Không có dân buôn thì gạo dưới Cần thơ, Long xuyên người ta đem nuôi heo, trong khi dân Sài gòn ăn bo bo, mì sợi. Cà phê trên Bảo lộc chín rụng, không ai hái trong khi dưới này phải uống cà phê dỏm pha bắp rang. Làm đâu hư đó mà cái gì cũng ôm làm một mình, thật em không hiểu nổi!

Ngữ nói:

– Không hiểu cũng phải rán chịu. Anh không đạp cyclo nữa thì lấy tiền đâu mua gạo?

– Anh tạm nghỉ một thời gian chờ tụi nó “đánh” xong, sẽ đạp cyclo lại. Độ rày anh ốm nhom.

– Em cũng vậy.

Quỳnh Trang mếu máo nói:

– Thấy anh đạp cyclo em không cầm được nước mắt. Em mà còn tiền, em lo cho anh vượt biên cho đỡ thân anh.

Ngữ nhớ đề nghị của Diễm tuần trước, nhưng đủ khôn ngoan để không kể lại với vợ. Quỳnh Trang chùi nước mắt nói tiếp:

– Em biết một chỗ họ sắp đi, nhưng họ đòi cao quá. Người lớn năm cây, con nít hai cây. Em đào đâu ra bảy lượng vàng.

Ngữ kinh ngạc hỏi:

– Sao em tính ra bảy lượng?

– Nếu anh đi thì dẫn con theo cho nó học hành. Ở đây nó chỉ lêu lổng, lớn thì đi nghĩa vụ. Nhưng thôi, có tiền đâu mà tính.

Ngữ cầm tay vợ, nói:

– Đi đâu cũng phải đủ vợ đủ chồng anh mới đi.

Quỳnh Trang ngồi nhìn thẳng phía trước, đôi mắt mệt mỏi lạc thần:

– Em phải ở lại với thầy me cho tới ngày con Quỳnh Như đón được thầy me qua Mỹ. Em có viết thư hỏi nó là liệu có thể bảo lãnh cho vợ chồng mình qua được không. Nó vừa phúc đáp hôm qua. Nó bảo ưu tiên một là cha mẹ, sau đó mới tới anh chị em. Vợ chồng mình rán ẩn nhẫn cho tới ngày đó. Anh nên nghe lời em, tạm thời cứ ở trong nhà đừng đi đâu. Cũng đừng ra cửa tụi công an khu vực nó thấy, hỏi giấy tờ lôi thôi.

Ngữ than:

– Anh không khác gì loài gián, nhục thân đàn ông quá!

***

Suốt hai tuần lễ ru rú trong nhà, Ngữ cảm thấy bực bội nôn nao như người tù bị giam. Cửa trước đóng kín, trừ những người gõ cửa theo mật hiệu, Ngữ không dám mở cửa cho bất cứ ai. Giây phút thần tiên của Ngữ là những khi ông bà Thanh Tuyến hoặc vợ con trở về, đem theo những mẩu thời sự ngoài đời. Đúng như Quỳnh Trang tiên đoán, Nhà nước đã mở một cuộc tảo thanh lớn vào giới đạp cyclo, tách bạch phân biệt “những người lao động chân chính” và “bọn phản động tàn dư chế độ cũ không chịu lao động núp bóng tuyên truyền xấu”. Quỳnh Trang mừng rỡ vì chồng thoát nạn, lại càng “quản thúc” Ngữ gắt gao hơn. Ngữ thèm di chuyển, thèm đọc, lượm được bất cứ mảnh giấy báo nào cũng đọc đi đọc lại nhiều lần, những tờ báo ông Thanh Tuyến mua về tuy nội dung khô khan lập đi lập lại bấy nhiêu luận điệu, nhưng Ngữ đọc nhẩm từng chữ cho qua thì giờ. Nhờ thế, Ngữ thấy được những điều lâu nay chàng chưa thấy. Ngữ đem những điều suy nghĩ nói với ông Thanh Tuyến. Cha vợ chàng rể sống lại cái thời ông Thanh Tuyến bị thương nằm một chỗ hàng ngày chờ Ngữ tới tâm sự. Mười lăm năm đã qua, tâm hồn cả hai đều rã rời bi quan không còn được phơi phới hăng say như xưa. Họ coi cuộc đời họ như đã bỏ đi, không nói gì tới mình nữa. Họ bàn về những gì đang xảy ra chung quanh, những cái đang đe dọa cuộc sống đạm bạc của họ. Ngữ đọc cho cha vợ nghe một đoạn báo lý luận về chính sách cải tạo thương nghiệp, rồi nói:

– Con không hiểu được, thầy ạ. Gia đình chúng ta là nạn nhân trực tiếp của thứ triết lý này. Nếu chúng ta là nạn nhân của bọn tham nhũng cậy thế ham tiền, thì mọi sự đơn giản. Chúng ta còn dễ xử trí. Nhưng chúng ta phải đối phó với một thứ triết lý kinh tế học có tham vọng thay đổi bản tính con người, phủ nhận tư hữu, đảo ngược luật cung cầu. Một thằng tham nhũng không đủ tự tin để lột sạch túi nạn nhân. Nó tham, nhưng nó tự cảm thấy bất an. Đằng này họ quá tự tin, nên không còn cả lòng thương xót. Họ rượt bắt những bà cụ buôn thúng bán bưng mà lòng an nhiên. Con nghĩ họ lầm lẫn ngay từ căn bản. Họ cho rằng chỉ những người lao động trực tiếp sản xuất của cải vật chất mới có ích cho xã hội. Họ lớn tiếng mạt sát giai tầng trung gian, gọi giới buôn bán là bọn ăn bám, là ký sinh hút máu mủ của người lao động và vét túi giới tiêu thụ. Ở các cơ quan, xí nghiệp, những người thuộc bộ phận hành chánh quản lý cũng bị rẻ rúng, bị liệt vào thành phần phi sản xuất. Như thế nào là sản xuất? Cái lầm lẫn lớn nhất của họ nằm ở định nghĩa này.

Ông Thanh Tuyến hớn hở như Bá Nha gặp Tủ Kỳ, hăng hái nói:

– Thầy cũng nghĩ như Ngữ. Phải rồi, thế nào là sản xuất? Người nông dân cày ruộng trồng lúa trồng khoai là sản xuất. Người thợ chế tạo ra cái máy cày là sản xuất, đan cái bao lát là sản xuất. Đúng. Nhưng hạt lúa gặt được, cái máy làm xong chỉ là những món đồ vật, giá trị của nó, nghĩa là lợi nhuận nó mang về cho nguồn trực tiếp sản xuất ra nó còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác. Quỳnh Trang có kể cho thầy biết là trên Bảo lộc Công an kinh tế tối tối đi rình từng nhà để bắt những người mang cà phê lậu đi bán chui. Bán cho Nhà nước thì giá quá rẻ không đủ tiền mua phân và thuê người hái cà phê. Cuối cùng cà phê rụng đầy đất người ta không thèm hái, trong khi dưới này cà phê khan hiếm. Người trồng cà phê nếu không có dân buôn bán tiếp tay thì hái cà phê xong về chất đống đó không biết làm gì cho hết. Họ chán không muốn trồng thêm nữa. Giới buôn bán như những con rạch dẫn thủy đưa nước từ chỗ thừa đến chỗ nắng hạn. Thầy nói như thế không phải vì gia đình ta buôn bán đâu.

– Họ bảo sẽ thay thế guồng máy lưu thông phân phối tư nhân bằng guồng máy mậu dịch nhà nước. Thật là một ảo tưởng lớn và tai hại. Một chị buôn trái cây ở chợ cầu Ông lãnh làm việc khác hẳn một chị cán bộ thương nghiệp ở cửa hàng mậu dịch. Một bác phở gánh làm ăn khác với một anh công tác ở cửa hàng ăn uống. Không có cạnh tranh, người ta bỏ mặc tới đâu hay đó. Chẳng những thế, cầu nhiều mà cung ít thì cán bộ thương nghiệp càng dễ sống, càng có oai, càng tiện đưa hàng nhà nước ra chợ đen kiếm lời. Phá tan một hệ thống lưu thông phân phối tự nhiên và hữu hiệu để thay vào một hệ thống cồng kềnh rời rã, kinh tế làm sao không đi xuống.

Ông Thanh Tuyến thích quá, vỗ tay vào vế nói lớn:

– Đúng. Không bao giờ, thầy nhắc lại, không bao giờ guồng máy mậu dịch quốc doanh hữu hiệu bằng guồng máy tự nhiên của tư nhân. Đó là bản tính con người. Họ bắt dân học tập đến nghìn năm nữa để “mình vì mọi người” thì con người vẫn y như nghìn năm xưa, không thể gột rửa được óc tư hữu. Cha chung thì không ai khóc. Có ép người ta, người ta sợ tù tội không dám cãi lại, thì người ta phản ứng bằng cách lãng công. Thầy phải đi mua gạo chiều nay cửa hàng lương thực. Lại phải nhìn bộ mặt đáng ghét của mấy con mụ cán bộ thương nghiệp.

– Con nghĩ nhiều về vai trò quan trọng của giới trung gian. Con trở lại cái cách họ định nghĩa về sản xuất. Chắc thầy đồng ý với con là họ sai lầm trầm trọng qua cách định nghĩa này. Thế nào là sản xuất? Từ một khối đá xù xì vô giá trị, nhà điêu khắc tạo thành một bức tượng đẹp. Đúng ông ta tự tay sản xuất ra một thứ của cải cho xã hội. Nhưng tạc tượng xong, nhà điêu khắc chỉ mới làm được một phần việc. Ông ta đặt pho tượng ở xưởng, người này ngắm nghía, người khác trầm trồ. Ông ta khoái, nhưng cái khoái ấy chưa đủ làm ông ta no. Phải có một tay trung gian đem bức tượng ấy đi giới thiệu với những người sành nghệ thuật để họ loan báo trên báo chí, phải có những tay con buôn nghệ thuật móc nối với những tay có tiền và có lòng yêu cái đẹp, bức tượng ấy mới có giá trị xã hội và giá trị kinh tế. Bán được tượng, nhà điêu khắc mới có tiền sống để tạc một pho tượng khác. Những người trung gian từ nhà điêu khắc đến người mua tượng góp phần công lao không kém gì chính tác giả bức tượng. Bảo họ là hạng ăn bám, hạng ký sinh bóc lột phải loại trừ, là hết sức lầm lẫn…

Cứ như vậy, hai cha con hả hê ca tụng nghiệp buôn bán của gia đình. Ông Thanh Tuyến hớn hở, mà Ngữ cũng quên được phần nào cảnh tù túng.

***

Cũng trong thời gian trốn chui trốn nhủi đó, một hôm Ngô tìm đến hiệu trà gặp Ngữ. Hôm đó chỉ một mình Ngữ ở nhà. Nghe tiếng đập cửa hối hả không đúng mật hiệu những người mua cà phê chui, Ngữ ngồi ở phòng trước nhưng im thin thít không lên tiếng. Chỉ tới khi nhận ra được tiếng Ngô, Ngữ mới yên tâm, ra mở hé cánh cửa sắt cho bạn lách vào rồi khép chặt cửa lại ngay. Ngô vào bên trong rồi mới nhớ còn để quên chiếc xe đạp trước đường. Ngô hỏi:

– Tao đã khóa, nhưng liệu trên này tụi ăn cắp nhiều không?

– Khỏi phải nói! Mày dẫn vào nhà cho chắc ăn.

Ngô ra đường, lười biếng mở cái khóa to tướng nên nhấc bổng cả chiếc xe đem vào nhà. Ngữ chờ cho bạn vào hẳn bên trong, liền đóng cửa lại, cẩn thận khóa kín. Ngô không quen với bóng tối, phải một lúc lâu mới nhìn ra nét mặt lo âu của bạn. Ngô hỏi:

– Mày sao vậy? Làm như mày trốn quân dịch không bằng.

– Tụi nó bố ráp dân đạp cyclo, cả tuần nay tao đâu có đi đâu. Nằm nhà mà nhởn nhơ ngoài cửa, thằng công an khu vực nó làm khó dễ liền.

– Sao không dẫn nó đi nhậu đi nhẹt cho nó tha tào cho mày. Thằng Lãng giỏi làm chuyện đó lắm, sao mày dở vậy?

– Ừ, tao dở chuyện đó thật. Nhưng có giỏi cũng bó tay. Nó biết thằng Tường làm cán bộ, nên cứ thẳng nguyên tắc mà làm, không dám. Thế mới kẹt. Trang đem cà phê lên đồn biếu nó, nó cũng không nhận. Đã thế, lại còn “lên lớp” Trang cả buổi nữa. Mày đi đâu lạc lên đây?

– Cả tuần không thấy mày ghé, tao tưởng mày dzọt rồi mà không chào từ biệt anh em nên ghé xem thử. Ấy, lâu lâu không gặp ai là tụi nó đồn thằng đó vượt biên rồi.

Ngữ buồn rầu nói:

– Vợ chồng tao làm gì có tiền mà tính chuyện đó. Nghe nói đi chính thức theo diện người Hoa mỗi đầu người phải tốn mười cây vàng.

– Mười cây được à? Mười cây là người Hoa bảy mươi hai phần dầu. Người Việt muốn đi phải thêm bốn cây nữa để làm hồ sơ người Hoa. Mười bốn cây vàng để mua tự do, đắt quá.

Ngữ hỏi:

– Sao mày thạo giá cả vậy?

– Tao nghe con Diễm nói. Vì giá cao quá, đi chính thức khỏi sợ Công an bắt, nhưng tụi tổ chức ham lời nhét người như nhét cá mòi vào hộp. Đã thế bọn Công an lại gửi thêm người nữa.

– Có chuyện đó à?

– Sao lại không? Chính tụi công an cầm đèn pin ngồi ở bãi soi giấy tờ kiểm soát người lên tàu mà. Tụi nó gọi người cho đi lấy tiền, chủ tàu cự nự tụi nó làm khó dễ không đi được. Thành ra tốn mười mấy cây mà lên tàu không có chỗ ké lỗ mũi để thở. Vì vậy mới có những tổ chức đi chui. Giá rẻ hơn, mà ngồi rộng hơn đi chính thức. Có năm cây vàng là đi được rồi.

Ngữ ngạc nhiên không hiểu sao Ngô quan tâm kỹ tới chuyện vượt biên, nhìn bạn dò xét, rồi hỏi:

– Mày bằng lòng đi với Diễm rồi hả?

– Không. Trước đây tao đã lắc đầu. Bây giờ sau vụ thằng Mười Chí, lại càng dứt khoát.

– Vụ Mười Chí? Nó bị bắt à?

– Không. Nó đi lọt, qua trại Songkla Thái lan. Vì mày nằm nhà nên không biết, cả tuần nay đi đâu cũng nghe bàn tán xôn xao chuyện Mười Chí. Các cơ quan tổ chức học tập về vấn đề vượt biên, sẵn vụ Mười Chí tụi cán bộ càng mạnh miệng.

Ngữ sốt ruột, vội hỏi:

– Nhưng chuyện gì? Qua Songkla là thoát nạn rồi, còn vụ gì nữa.

Ngô biết bạn sốt ruột tò mò, càng ề à:

– Tao cũng tưởng như mày. Nghe bà chị nó báo tin Mười Chí đã đến Thái, tao mừng cho nó. Con Diễm được tin càng thúc tao dữ. Nhưng vài hôm sau thì nhiều người nhận được thư của thân nhân ở Songkla viết về, thư nào cũng nói chuyện Mười Chí. Thật rủi cho nó. Vừa lên bờ, vào trại, nó gặp ngay một số dân Huế biết nó. Người nào cũng có thân nhân bị thảm sát trong vụ Mậu Thân. Họ tố cáo nó. Mới lên bờ có hai ngày, ngày đầu nằm ở bãi biển chờ Cảnh sát Thái lan lập thủ tục chở về trại Songkla không sao. Ngay tối hôm sau vào trại, nó bị đập hội đồng. Cảnh sát Thái cứu nó đem nhốt riêng. Không biết số phận nó về sau ra sao.

Ngữ ngồi yên vì xúc động. Một lúc sau, Ngữ nói:

– Đúng là cái vòng oan nghiệt của dân tộc mình. Cái kẹt là ân oán chồng chất mãi không gỡ được, cũng không trách ai được. Giả dụ nếu tao không quen biết Mười Chí để hiểu tâm sự của nó, mà tao ở Songkla lúc nó tới, có thể tao cũng nhào vào tát tai nó vài cái cho hả thù cha. Không thể khác được.

Ngô kinh ngạc nói:

– Mày mà cũng nói thế à?

– Mày phải đặt mình vào địa vị những người là nạn nhân của Cộng sản. Huống chi ở trại Songkla có cả vạn người vừa thoát chết tụ họp lại, chưa quên mấy năm sống nhục nhã ở đây.

Ngô ngồi im lặng thật lâu, dường như Ngô suy nghĩ nhiều về cái gì thật thiết thân, nên mãi mười phút sau, Ngô mới nói:

– Cũng may nhờ có vụ Mười Chí mà tao không còn phân vân gì nữa. Đành “nhận nơi này làm quê hương, dẫu cho khó thương”.

Ngữ nhìn nét mặt buồn rầu của bạn, tìm cách an ủi:

– Tao cũng vậy.

– Mày khác chứ. Tiếc là mày không đủ tiền ra đi. Mày sống chui sống nhủi như thế này, đi được là giải thoát.

Ngữ nói:

– Không có cuộc ra đi nào là giải thoát cả. Ra đi là đứt ruột, là cái cây bị bật gốc khỏi lòng đất. Người ta chỉ bỏ nước ra đi vì chẳng còn cách nào khác. Ở đây họ không được quyền sống. Họ không có ngày mai. Họ sống trên quê hương mà bẽ bàng lơ láo như sống tha hương. Thôi thì họ đành tìm đến chỗ tha hương khác, nơi đó họ còn được quyền sống, con cái họ còn được phép học hành. Lâu nay tao vẫn nghĩ: cần phải định nghĩa lại hai chữ QUÊ HƯƠNG. Theo tao, quê hương là nơi tao cảm thấy tao có ích.

– Mày nói như một người sắp bỏ nước ra đi. Sao mày không đi?

Ngữ suy nghĩ thật lâu, mới đáp:

– Vì tao chưa biết ở lại đây tao có ích, hay ra đi tao có ích. Nếu ở lại đây mà tao đủ can đảm viết, dù biết chắc viết để đó chứ không có cách nào in được, thì tao an tâm ở lại. Nếu một ngày nào đó tao đi, có nghĩa là tao yếu đuối, tao chạy trốn, tao đào ngũ. Lúc ấy ra nước ngoài tao chỉ còn biết thui thủi sống cho qua ngày, vì nói cái gì cũng là nói dóc hết.

Ngô cười:

– Mày rắc rối quá chỉ tự làm khổ thân. Mấy tháng trước, Mười Chí có mượn đâu được mấy tờ báo in bên Mỹ cho tao coi. Trời! Qua bên đó họ hùng lắm, nhắn nhủ dạy dỗ những người còn ở lại đủ điều. Tao đọc sao thấy giống giọng mấy thằng ở Hà nội dạy bọn tao phải tranh đấu thế này thế nọ. Kể ra con người muôn thuở vẫn vậy, ở chỗ không nguy hiểm thường dễ tỏ ra can đảm.

_______________________

Tháng Tư 7, 2010

Mùa Biển Động Chương 182

Chương 182

Từ lâu, Ngữ tránh lên xóm Chùa thăm gia đình ông bà Bỗng, mặc dù mỗi lần chở khách qua lại trên đường Đinh Tiên Hoàng, đến chỗ ngã rẽ về xóm Chùa, tự nhiên bàn chân đạp lên pédale của Ngữ phân vân.

Ngữ tự tìm hiểu mình, và tạm thời tìm một cách giải thích: Có lẽ chàng xốc xếch tiều tụy quá nên không muốn để cho Diễm thấy; cũng có lẽ đời sống càng kham khổ, Quỳnh Trang càng ốm o xanh xao thì Ngữ càng yêu thương vợ hơn, lén lút gặp Diễm là một cái tội tày đình không thể tha thứ được. Lâu lâu ghé lại cà phê Hân gặp Ngô và Mười Chí ở đấy, Ngữ nói chuyện với họ, hăng hái bàn luận đủ chuyện trên trời dưới đất không chút e dè, nhưng tuyệt nhiên Ngữ không nhắc tới Diễm. Ngô có ý chờ bạn hỏi về em gái mình để nhân tiện xác minh lại những hồ nghi, chờ mãi không thấy gì. Hai người bạn cũ ngầm rình nhau, lúc nào cũng muốn có cơ hội để nói thật với nhau một lần, nhưng diễn tiến đưa đẩy sắp tới lúc nhắc tới Diễm, Ngữ lại tìm cách nói sang chuyện khác.

Tuy vậy, Ngữ biết rõ những gì Diễm làm. Từ lúc ở tù ra, Diễm thêm liều lĩnh, làm những chuyện tày trời rất dễ vào tù lần nữa. Ngữ có cảm tưởng như Diễm muốn phá hủy đời mình như có lần nàng tâm sự với Ngữ ở Bảo chánh. Phong trào người Hoa vượt biên bán chính thức ồ ạt làm phát triển thêm những tổ chức vượt biên bất hợp pháp trước đó đã có nhưng lẻ tẻ. Diễm bỏ việc buôn hàng chuyến trên xe lửa, chuyển sang nghề móc nối giới thiệu người đi chui để lấy hoa hồng. Mỗi lần báo đăng một vụ án xử phạt nặng nề những người tổ chức vượt biên, Ngữ lại hồi hộp lo ngại, sợ đọc thấy tên Diễm lần nữa trên tờ Sài gòn Giảí Phóng hoặc Nhân Dân. Chưa hết! Diễm còn rủ Lãng hãy bỏ nghề buôn thuốc Tây chợ trời để hợp tác với Diễm. Khỏi phải suy nghĩ lôi thôi, Lãng nghe lời Diễm ngay. Còn có nghề nào thích hợp với bản tính Lãng hơn. Gặp em ở nhà, Ngữ thường nghe Lãng ca tụng hết lời cái tài luồn lách móc ngoặc của Diễm. Lãng nói:

– Em chưa thấy người đàn bà nào lanh như chị Diễm. Dân mũ xanh tụi em nổi tiếng đánh giặc chì, liều lĩnh, đéo sợ cái gì cả. Nhưng còn thua chị Diễm xa. Anh nghĩ coi. Lão chủ ghe đóng xong ghe ở cầu Rạch ông cả hai tháng nay mà xin giấy phép ở sở Thủy sản xuống Vũng tàu hành nghề cào tôm không được. Chạy thuốc đủ nơi rồi tiền mất tật mang, tụi Giao thông Vận tải cho người tới xoi mói chê bai chiếc ghe đủ điều, bảo là không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật. Sở Công an thì cứ ngâm tôm hồ sơ của tài công, thợ máy, và thủy thủ, bảo phải chờ các địa phương xác minh lý lịch. Khách đã gọi đủ rồi, bãi bến đã lo xong, mà chiếc ghe cứ nằm ụ mãi. Anh biết không, chị Diễm nóng ruột quá, vì vàng đã thu của khách từ lâu rồi mà cứ phải hẹn rày hẹn mai hoài. Chị hỏi ông chủ ghe có biết ghe nào vừa xin được giấy phép không. Ông chủ ghe nói cái ghe đóng ở ụ bên cạnh xong sau mà lại có giấy phép trước. Chị Diễm tìm gặp ông chủ ghe này, xin xem cho biết cái giấy phép ra sao. Chị biết được tên Giám đốc Sở Thủy sản, người ký giấy phép. Thế là hôm sau chị lên sở Thủy sản nói với thằng bảo vệ gác cửa chị là người nhà của đồng chí giám đốc. Chị chờ tới mười giờ thì thằng chả tới. Chị mời thằng chả đi ăn sáng. Thằng chả hiểu liền, nhìn đồng hồ bảo có cuộc họp khẩn, đến trưa mới xong. Chị biết cá cắn câu rồi, hẹn gặp thằng chả buổi trưa ở quán cơm đường Lê Thánh Tôn. Sau bữa cơm, mọi chuyện xong xuôi. Một tuần sau, đã có giấy phép, chỉ tốn bảy cây vàng núi mà thôi.

Ngữ tin lời em, lòng sợ hãi pha lẫn khâm phục Diễm. Nhưng Ngữ can ngăn Lãng:

– Em đàn ông lại là lính ngụy, phải coi chừng. Đàn bà làm cái gì cũng dễ. Tụi mình lỡ dính tụi nó khui cả cái lý lịch lính ngụy ra.

Lãng hăng hái nói:

– Em khôn lắm, không để cho mắc nạn đâu. Em chỉ cần dẫn mối một thời gian đủ tiền đem cả gia đình đi. Anh cũng nên tính từ bây giờ. Tụi mình không ở lại đây được đâu.

Ngữ nói:

– Người ta tiền rừng bạc biển người ta đi. Mình một xu không có, qua bên đó làm gì. Ở Mỹ đâu có thể làm nghề ăn mày được.

Lãng nhìn anh, lắc đầu:

– Anh già khụ rồi. Mới bốn mươi tuổi đã già!

Rồi Lãng giơ hai bàn tay lên trước mặt Ngữ, cười nói:

– Sao anh không bắt chước bác Hồ? Bác nói hồi hai mươi tuổi vào Sài gòn muốn đi Pháp thì có người cũng can như anh can em. Bác giơ bàn tay ra nói ở đâu có bàn tay này là có thể sống được. Không lo. Không hiểu Bác có nói như thế thật, hay về sau Bác phịa ra để dạy lũ nhỏ. Có anh làm chứng nhé, em nói thật chứ không phịa đâu nhé.

Không biết đó là lần thứ mấy, Ngữ ao ước được hồn nhiên như em.

***

Ngữ vừa mừng vừa thất vọng khi chỉ gặp một mình Ngô ở căn nhà xóm Chùa. Ngô cũng mừng, bỏ cả công việc chạy ra hỏi bạn:

– Sao lâu nay mày không ghé. Tao có nhiều chuyện muốn kể với mày.

Ngữ theo thói quen khóa xe đạp cẩn thận rồi mới hỏi, lòng hy vọng vu vơ là Ngô sắp kể chuyện về Diễm:

– Chuyện gì thế?

– Mười Chí vượt biên rồi, mày biết chưa?

Ngữ kinh ngạc hỏi lại:

– Nó vượt biên làm gì? Hồi nào?

– Cách đây một tuần. Trước khi đi, nó có đến cho tao hay. Chỗ tổ chức là bà con của nó. Kể ra nó cũng liều lĩnh thật. Như mày mà đi thì không sao. Nó đi, biết tụi Mỹ có nhận cho định cư không?

– Tần nó có nói với mày tại sao nó đi không?

– Có. Nó ngủ ở đây một đêm trước khi lên đường. Hai đứa nằm nói chuyện với nhau suốt tới sáng. Tao khuyên nó nên suy nghĩ cho chín chắn, vì nếu đi không lọt bị bắt lại, số phận nó còn bi đát hơn số phận những thằng ngụy như mày. Họ sẽ ghép nó vào loại phản bội, y như những người hồi chánh trước đây.

– Nó chịu nghe không?

– Mày hỏi ngớ ngẩn bỏ mẹ! Nếu chịu nghe thì nó đâu đã đi. Nó bảo không còn chờ đợi được nữa. Sáu năm qua rồi, mọi chuyện càng ngày càng tệ. Nó bảo đúng ra nếu còn sĩ khí như hồi trước, thì tụi mình phải xuống đường, lên tiếng đòi bọn to đầu ở Hà nội phải từ chức, đòi loại bỏ tham nhũng, bất công, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân. Tại sao hồi trước xuống đường đả đảo ngụy quyền Sài gòn được mà bây giờ im thin thít không dám xuống đường đả đảo một chế độ còn tàn tệ hơn? Hỏi vậy cho vui, chứ ai cũng biết là không thể làm được. Bất mãn chửi thề vài tiếng ở quán cà phê, không sao; nhưng nhóm lại định làm gì là tụi nó nhúm liền, không a-ma-tơ như thời ngụy. Thật y như tình cảnh người câm ăn ớt. Nó nói nếu ở đây thêm ít lâu nữa nhất định có ngày cái miệng sẽ hại nó. Thôi, tính đường cao bay xa chạy trước thì hơn. Nó chỉ mong đời quên nó đi, coi như nó đã chết. Chỉ mong được sống an thân nơi cái xó nào đó.

Ngữ hỏi:

– Có chắc nó được an thân không?

– Theo mày, nếu nó đi lọt, các nước như Mỹ, Úc, Gia nã đại chịu nhận nó không?

– Tao không biết rõ. Chắc họ đành nhận nó, chứ trả nó về thì có khác nào đẩy nó vào chỗ chết. Nhưng tao định nói liệu tự nó, nó có chịu an thân không.

– Mày định nói gì tao không hiểu.

– Tao muốn nói là dù Mười Chí trôi giạt đến cái xứ nào của thế giới, nó vẫn không trốn được chính nó. Nó vẫn không quên được nó là một thằng hèn, nếu nó tâm sự với mày như mày vừa kể. Hồi trước nó hăm hở vì nghĩ mình là người hùng. Bây giờ thấy đàn áp bất công mà không dám hở môi, nó tự thấy mình hèn. Dù ở đây hay trốn đi, hèn vẫn là hèn. Tâm trạng chung của tụi tranh đấu hồi trước đều như vậy.

– Tao hiểu. Thú thực với mày, hiện tao đang phân vân! Con Diễm nó định đóng ghe vượt biên, đưa cả nhà đi. Nó hỏi tao chịu đi không để nó lo giấy tờ cho tao làm thủy thủ. Nó đã mua được một cái xác ghe cũ để lấy số, tháng sau bắt đầu đóng cọc tiền ụ cho họ khởi công. Nếu đi, chắc cũng năm sáu tháng nữa. Tao băn khoăn quá, không biết tính thế nào. Mày nghĩ sao?

– Tùy ở mày đó chứ!

Dường như Ngô thao thức nhiều đêm về việc này, nên Ngô nói một mạch dài, giọng xúc động hơi lắp bắp:

– Mày không thể hiểu hết được tâm trạng những thằng như tao hoặc thằng Tần. Mày có khổ cực đó, có bị bọn công an làm khó dễ đó, nhưng tâm hồn mày bình an. Thấy đất nước càng ngày càng tệ, cán bộ hách dịch hủ hóa, mày càng khoái. Mày nói thầm: “Tụi bay thắng, tưởng là ngon lắm hả? Tụi bay cư xử với dân còn tệ hơn tụi tao nữa. Tụi bay là một lũ vô tích sự mà nói dóc một tấc tới trời”. Mỗi lần mày gặp tao hay thằng Tường, nhất định mày rủa thầm “Đã trắng mắt chưa các con. Tranh đấu cho lắm vào!” Không, mày cứ để cho tao nói hết. Có thể mày không nỡ nói thế, nhưng mày nghĩ na ná như thế. Mày ở vào phe bị thua, không ai tin mày mà giao cho mày trách nhiệm gì cả, nên mọi sự rối beng tồi tệ, mày vô can. Giả dụ nếu có cơ hội mày vượt biên thành công, qua bên đó mày ngửng mặt lên mà đi, mày có thể lấy mấy năm ở tù ra làm huy chương đeo trên ngực cho thiên hạ ngán mày. Mày bị tù tội, bị ức hiếp, mày phải ra đi tìm tự do. Mày đường đường chính chính vào cửa lớn. Bốn năm cải tạo của mày, một năm làm rẫy của mày, một năm đạp cyclo của mày, mày sẽ dùng làm chất liệu để viết hàng pho sách dày cộm vài nghìn trang tố cáo chế độ này. Ở lại đây, mày khổ mà thảnh thơi. Ra đi, mày sướng thân lại được thiên hạ coi mày như người hùng. Không, mày phải để cho tao nói hết, chưa chắc sau này tao có dịp nói hết với mày như hôm nay. Tụi tao khác mày nhiều lắm. Thấy đất nước ngày càng tồi tệ, dân ngày càng đói rách, tụi tao xót xa. Nếu từ ngày giải phóng đến nay đất nước có khá hơn một chút, một chút xíu thôi, tụi tao cũng đỡ mặc cảm. Tụi tao đã có thể nói với mày: “Ngữ, mày đừng nóng ruột. Bao nhiêu xương máu đổ ra, kể cả những cái chết oan uổng tức tưởi như cái chết của ba mày, đều là những hy sinh cần thiết để bây giờ, độc lập thống nhất rồi, ta quên hết quá khứ xây dựng lại một đất nước tốt hơn, đẹp hơn. Mày thấy cái này hơn năm ngoái phải không? Còn cái này dưới chế độ cũ làm sao có được”. Khổ cho tụi tao là không có cái gì để khoe được với mày cả. Vậy thì bao nhiêu hy sinh để làm gì? Đừng, đừng cắt lời tao. Tao nói thật, nhiều khi mày làm tao đau mà mày không biết. Mày kể tao nghe những chuyện bê bối hống hách của cán bộ, công an, với vẻ mặt đắc thắng sung sướng, mày quên mất là mỗi lời mày kể đâm vào da thịt tao như những mũi dao. Tao bỏ việc, thằng Mười Chí bỏ việc chỉ vì những lời mỉa mai tương tự như lời mày. Tụi tao muốn chứng tỏ ít ra mình đã ra ngoài cái guồng máy đó. Rõ ràng khi biết Mười Chí thôi việc đi vẽ guốc, mày ăn nói dạn dĩ hơn, chân thật hơn.

Ngữ gật đầu, rồi nói:

– Đúng. Vì hai đứa mày chứng tỏ không thỏa hiệp với guồng máy đó. Mười Chí đi xa thêm một bước, nhưng tao không biết bước đó tốt hay xấu, nên hay không nên. Tao không thể trả lời câu mày hỏi.

– Tao chưa trả lời con Diễm. Giả sử thằng Mười Chí hoặc tao đi lọt. Hồi nãy mày nói đúng. Đi đâu, tụi như tao vẫn không an tâm. Về điểm này, mày cũng khó hiểu được tâm trạng tụi tao. Từ trước tới sau, mày vẫn ở một bên chiến tuyến. Mày giống như tụi sinh ra và lớn lên ngoài Bắc, vui hay buồn, sướng hay khổ theo một tập thể đông đảo, không bao giờ cảm thấy lạc loài. Những thằng như tao, Mười Chí hoặc Tường, thì ở vào một loại đặc biệt: tụi tao đổi chiến tuyến. Khi bỏ Huế vào rừng, tụi tao bỏ một phe để vào một phe khác, và ở phe mới, tụi tao bị coi như những đứa bé chập chững từng bước. Tụi tao phải giữ mồm giữ miệng, phải lặng lẽ quan sát chung quanh người ta ăn nói cư xử ra sao để bắt chước cho giống người ta, đôi lúc phải chửi rủa thậm tệ phe cũ để làm vừa lòng phe mới. Thằng Tường đã làm như thế, tao cũng đã làm như thế. Cố công hết sức, nhưng tụi tao vẫn là cháu ngoại. Trong lý lịch, vẫn có cái ranh giới giữa thời kỳ “chưa giác ngộ cách mạng” và thời kỳ “đã giác ngộ cách mạng”. Tụi tao bỏ bạn cũ như mày nên không còn chơi thân với nhau tự nhiên như trước, còn các bạn mới thì nhìn tụi tao như con bà lớn nhìn con tì thiếp. Một lần đổi chiến tuyến là một lần bẽ bàng. Tao không có can đảm thử thêm một lần nữa.

– Mày có nói với Mười Chí như vậy không?

– Có. Nó nói nếu đi lọt qua bên đó nó sẽ tìm chỗ nào không có người Việt để ở, vừa làm vừa đi học hội họa trở lại. Màu sắc, cái đẹp sẽ cứu nó. Mày biết tao nói với nó thế nào không?

– …

– Tao bảo: “Mày sẽ chết dần chết mòn vì cô đơn”.

***

Ngữ ngồi nói chuyện với Ngô tới tối. Lúc chàng đứng dậy chào bạn ra về, thì Diễm cũng vừa về tới trước cửa. Bên ngoài trời tối, ánh đèn chiếu phía sau lưng Ngữ nên Diễm tưởng chàng là Ngô, Diễm nói:

– Anh ra ngõ mang vào giúp em bao gạo. Ba mạ về chưa?

Đúng lúc đó, nàng nhìn thấy anh ngồi ở bàn vẽ guốc, đồng thời cũng nhận ra Ngữ. Ánh đèn chiếu thẳng vào khuôn mặt Diễm, nên Ngữ thấy rõ nét mặt vui mừng của Diễm, ánh mắt sáng của Diễm. Ngữ nói:

– Ngô đang bận. Diễm để tôi ra khuân gạo vào cho.

Diễm cười, đáp:

– Bao gạo nặng lắm. Em phải ra giúp anh một tay.

Nói xong, Diễm đi ra phía trước cổng. Nàng đi đến chỗ bóng rợp của cây mít thì dừng lại chờ Ngữ tới. Sau khi liếc về phía cửa, Diễm nói nhỏ với Ngữ:

– Sao lâu quá anh không xuống? Hôn em đi.

Ngữ chỉ chờ có thế. Không giống với những lần trước, lần này Diễm chủ động tham lam hơn Ngữ, nhướn gót lên ôm Ngữ hôn, hai tay luồn vào áo Ngữ ve vuốt tấm lưng dài. Ngữ bắt chước Diễm thì Diễm cười khúc khích tránh xa ra, liếc nhìn về phía cửa sáng, nói nhỏ:

– Anh Ngô biết chuyện anh với em rồi đó, anh phải coi chừng.

– Sao em biết?

– Tại em quên không dẹp đôi dép Nhật em mua cho anh dạo nọ.

– Lâu rồi mà!

– Thì vậy. Ảnh về thấy đôi dép Nhật đâm nghi, nhưng không hỏi thẳng em. Hôm qua anh Ngô mới hỏi thẳng.

– Thật thế à? Sao tự nhiên Ngô hỏi thế?

– Em thúc giục ảnh cho em biết muốn đi với em không để em còn liệu. À, anh Ngô có cho anh biết chuyện em sắp đi không?

– Có. Còn lâu mà!

– Em đã đặt cọc tiền. Ngày mốt cúng. Họ bảo phải cúng để đóng cọc theo đó dựng sườn cho thẳng, ghe cân bằng khỏi bị lật. Em chẳng biết họ gọi là lễ gì. Chừng hai tháng thì đóng xong. Chạy giấy tờ, chừng tháng Tám đem ghe xuống Vũng tàu được rồi.

Ngữ nhắc:

– Nhưng sao tự nhiên Ngô hỏi em?

– Em cáu hỏi ảnh tại sao cứ ỡm ờ như vậy, không đi với ba mạ và em thì ở đây làm gì. Em nói cần ảnh đi theo để có đàn ông con trai bên phía lo bãi họ không lấn lướt. Ảnh hỏi tại sao không hỏi anh Ngữ. Ảnh nói anh cần đi hơn ảnh. Anh, anh đi với em không?

Ngữ không biết trả lời thế nào, hoãn binh:

– Mình ra vác gạo vào đã.

Diễm đi theo Ngữ, giọng nói pha trách móc, hờn dỗi:

– Sao anh không trả lời.

Ngữ đáp:

– Anh đi sao được. Tiền đâu mà đi. Với lại…

– Với lại chị Trang không cho anh đi với em phải không? Anh đem theo cả gia đình, qua bên đó trả tiền cho em cũng được.

Ngữ nhấc bao gạo đặt lên vai. Diễm ngăn lại:

– Khoan đã. Anh trả lời liền cho em đi. Em đóng ghe, được gọi bốn phần khách. Bên lo bãi được sáu phần, nghĩa là nếu ghe chở được một trăm người, thì phần em được bốn chục.

Ngữ nói:

– Quỳnh Trang không chịu đi với em đâu. Vì sao, em biết rồi! Với lại ông bà cụ còn ở đây chờ Quỳnh Như bảo lãnh đi Mỹ, Trang không chịu đi bây giờ đâu.

Giọng Diễm bắt đầu nóng nảy:

– Chị ấy không đi thì phải để cho anh đi chứ. Chẳng lẽ anh làm phu cyclo như thế này cho tới già à!

Ngữ vừa ngượng vừa bị chạm tự ái, đứng im mím môi không nói gì. Diễm nói:

– Anh cứ về hỏi chị Trang. Nếu chị ấy muốn ở lại với hai bác, và để cho anh dẫn cháu Bình đi, thì em cho đi không. Em không muốn thấy anh khổ. Anh về hỏi chị Trang ngay tối nay đi. Mai ghé đây cho em hay để em còn tính.

– Còn lâu mà. Vội gì!

– Không vội sao được. Biết lúc nào tụi nó chấm dứt vụ cho đi bán chính thức để mình nương theo đó lo lót đi chui mà chờ! Em hứa thưởng hai lạng nếu bên ụ họ chịu đóng xong ghe trước thời hạn cho em. Giấy tờ thì em tìm ra tuy-dô rồi, nhanh lắm.

Ngữ nhớ lời Lãng kể, nói với Diễm:

– Em nên cẩn thận. Tụi nó như dao hai lưỡi, đâm mình lúc nào không hay.

– Về chuyện đó, em am tường hơn anh, anh khỏi lo. Em đã ghé Thị nghè bảo Lãng từ mai qua cầu Rạch Ông thay em theo dõi họ đóng ghe. Tiền công hàng ngày em trả.

Càng nghe Diễm nói, Ngữ càng lúng túng, Ngữ nói:

– Em hiểu cho anh. Tất cả còn tùy ở Trang. Nếu Trang không thích…

Diễm giận dữ nói:

– Chị ấy không được ích kỷ, phải nghĩ tới tương lai anh.

Rồi đột nhiên, Diễm đổi sang giọng buồn rầu:

– Nhưng em có quyền gì đâu! Thôi, tùy ở anh. Anh ở lại đây ăn com với em không?

Ngữ đáp:

– Anh phải về thôi.

__________________________

Mùa Biển Động Chương 181

Chương 181

Từ đó Ngữ bắt đầu sống cuộc đời của đa số những người không có tên trong hộ khẩu, sống bất hợp pháp trên các vỉa hè của Sài gòn. Họ gồm những người lao động buôn thúng bán bưng, những người lỡ đi kinh tế mới không chịu đựng nổi rừng thiêng nước độc và đói khát phải trở về Sài gòn lây lất bươi chải kiếm ăn từng bữa, những tù cải tạo thoát được khỏi vòng kẽm gai để vào một nhà tù mênh mông hơn, những kẻ liều lĩnh từ miền Bắc vào miền Nam mong thoát được ít lâu cái không khí u ám…

Trong những người đồng cảnh ngộ, Ngữ chỉ là một tay mơ. Chàng không liều lĩnh được như những dân từ vùng kinh tế mới về, vợ chồng con cái trải chiếu giăng màn la liệt dọc đường Trần Hoàng Quân dưới Chợ lớn. Họ đúng là những người đã mất hết, nên hoàn toàn tự do, không còn sợ gì nữa. Công an không dám đụng tới họ. Bị tù họ càng khỏe, vì khỏi phải từng ngày dắt díu nhau tìm bươi những đống rác hôi thối lấy thanh sắt nhọn ghim những bao ny lông, giấy đi cầu, giẻ rách thu thập đem bán cho vựa ve chai lấy tiền đong gạo. Đúng như là Lénine viết, họ không còn gì để sợ mất. Có mất chăng là mất xiềng xích. Chết là một hạnh phúc.

Ngữ còn có khá nhiều điều quý giá để phải sợ mất. Chàng không muốn Quỳnh Trang chứng kiến đời sống lam lũ thất thểu của mình. Lấy cớ cả ngày ở Thị nghè để khỏi bị Công an Lý Thái Tổ làm khó dễ, Ngữ dọn đồ nghề ngồi sửa và vá xe đạp ở Sở thú, đối diện với mấy chai xăng giả của mẹ bày bên kia đường. Trưa nào hai mẹ con cũng ngồi ăn cơm chung với nhau sau bức tường một căn nhà đổ, vừa ăn vừa trông chừng các khách hàng mua bán xăng và sửa xe. Buổi tối chàng đạp xe về Lý Tháí Tổ với vợ con, góp tiền để Quỳnh Trang đong gạo. Nhờ khiếu nại, gia đình ông bà Thanh Tuyến được xóa tên khỏi danh sách những tư sản mại bản, tài sản không bị tịch thu, không bị bắt buộc đi kinh tế mới, nhưng kinh nghiệm xót xa đó thay đổi hẳn lối sống của hai vợ chồng già. Bà Thanh Tuyến không thiết gì chuyện buôn bán nữa, tuyên bố rõ với các con là từ nay ông bà sống nhờ vào số quà Quỳnh Như gửi về. Ông Thanh Tuyến thì viết thư cho Quỳnh Như bảo con gái lập thủ tục bảo lãnh cho cha mẹ di cư sang Mỹ. Quỳnh Như mừng rỡ như người sắp chết đuối vớ được tấm ván. Nàng đã ly dị với Dale khi biết chồng lén lút sống chung với cô thư ký làm việc tại văn phòng địa ốc. Quỳnh Như viết rằng cuộc đời nàng từ đây đã định hướng rõ rệt: đi làm kiếm tiền gửi về giúp đỡ gia đình, rán cần kiệm để mua một căn nhà nhỏ có vườn ở vùng yên tĩnh và chờ ngày mẹ qua. Quỳnh Như viết một câu khiến bà Thanh Tuyến bật khóc: “Đời con coi như bỏ đi rồi. Con còn sống đến ngày nào chỉ vì thầy me. Ngày hạnh phúc nhất của đời con sẽ là ngày con được đón thầy me ở phi trường”.

Biết những gói quà của em là nguồn tài chánh duy nhất còn lại của thầy me, Quỳnh Trang không còn dám hỏi mượn tiền mẹ nữa. Nàng phải tự xoay xở lấy. Ngữ long trọng hứa với vợ, là ít nhất mỗi ngày chàng cũng kiếm đủ tiền cho Quỳnh Trang đong gạo. Cho tới nay, Ngữ giữ đúng được lời cam kết, trừ những hôm bị Công an Sở thú đuổi không cho hành nghề, tối về đành ngượng nghịu chịu lỗi với vợ. Những dịp ấy, hai vợ chồng bùi ngùi nhìn nhau khóc và họ yêu thương nhau hơn.

Quỳnh Trang gầy ốm hơn trước, đôi mắt lúc nào cũng hớt hải, lo sợ những điều bất trắc. Tuy vẫn làm cái nghề buôn bán chui cà phê, Quỳnh Trang không lo sợ cho mình. Nàng cứ lo cho Ngữ. Buổi tối Ngữ thường ngủ say sau một ngày lao động mệt nhoài. Phần Quỳnh Trang, nàng không yên giấc. Tiếng chân đi lại ngoài lề đường rồi im bặt đột ngột bên kia cánh cửa sắt cũng làm cho nàng giật mình. Ban đêm có ai đập cửa, nàng vội đánh thức Ngữ dậy. Nàng sợ Công an phường bất chợt bố ráp xét sổ hộ khẩu. Nhìn đâu nàng cũng thấy những đôi mắt cú vọ đang theo dõi xoi mói. Màu áo vàng nào Quỳnh Trang cũng nhìn thấy màu áo vàng mầu ruột khoai của Công an.

Quỳnh Trang lo sợ cũng phải, vì nếu Công an chận lại xét hỏi, Ngữ có thể bị bắt bất cứ lúc nào. Không hộ khẩu, không nghề nghiệp, không thuộc loại lao động sản xuất, lý lịch là tù cải tạo được tạm tha. Ngữ thuộc thành phần “ăn bám xã hội, phá rối trị an”. Mỗi lần bị Công an Sở thú đuổi không cho bày đồ nghề vá xe ở lề đường bên này dốc cầu, Ngữ đều bị nghe cùng một luận điệu dạy dỗ từ miệng những cậu công an tuổi non choẹt nhưng có đôi mắt lạnh và sắc như dao.

Bị quấy rầy mãi, Ngữ chuyển sang nghề chở thuê đồ gốm Biên hòa cho các tổ hợp bán đồ gốm dưới Chợ lớn. Dụng cụ hành nghề là một chiếc xe đạp “đặc chế”’ thành xe vận tải; sườn xe là sườn Mobylette, bánh xe niền sắt, tăm xe loại lớn đủ sức chống đỡ trọng tải cao, pédale là hai thanh sắt hàn dính với bàn quay, ghi đông là ghi đông xe Alcyon vạm vỡ có tận hồi Tây thuộc địa. Ngữ dùng chiếc xe thồ đặc chế chở mỗi lần tám cái thạp da lươn của lò gốm Biên hòa, loại người ta dùng đựng ngũ cốc hoặc nước uống. Cái khó ban đầu của nghề nghiệp là làm cách nào cột chặt tám cái thạp lên porte bagage của chiếc xe đạp. Ngữ nhờ một bạn tù cải tạo dẫn vào nghề, và phải mất cả tuần lễ mới tự mình chất hàng lên xe được. Trên đường hành nghề, Ngữ oán hận những kỹ sư cầu cống đã vẽ kiểu cho cây cầu xi măng Tân cảng. Đã đành người vẽ kiểu phải làm sao để cây cầu dài rộng này không làm trở ngại những tàu bè qua lại trên sông Sài gòn. Nhưng họ quên là có một ngày nào đó, một tù cải tạo bị thương ở ống chân trái phải dùng xe đạp chở tám cái thạp lớn rướn người cong lưng đạp lên thành pédale, leo cho hết cái dốc cầu dài vô tận, để lấy tiền mua gạo độ nhật. Nhiều hôm đuối sức Ngữ phải dừng lại ở lưng chừng dốc để thở. Lúc đó, Ngữ phải gếch thành pédale lên thềm cầu, rồi lấy thanh gỗ chống một bên xe đạp trước khi yên tâm thả ghi đông ra, ngồi xuống thềm cầu hưởng một chút gió sông.

Ngữ phải bỏ cái nghề nhọc nhằn này sau một tai nạn nghề nghiệp không phải do Ngữ. Chàng đã mau chóng trở thành một dân xe thồ chuyên nghiệp. Từ tám cái thạp, Ngữ đạt kỷ lục chở một lần được tới mười cái. Leo lên dốc cầu Tân cảng không còn là một khổ hình nữa. Số tiền kiếm được cao gấp ba số tiền vá xe. Hôm đó Ngữ chở mười cái thạp đổ dốc cầu Thị nghè, vừa liếc nhìn về phía mẹ ngồi bán xăng thì một chiếc Molotova từ phía sau vượt qua mặt Ngữ, đột ngột ép sát lề bên phải phanh gấp lại để bán xăng lậu cho bà Văn. Ngữ không phanh kịp chiếc xe đặc chế. Vành bánh trước cong vòng xiêu xó. Mười cái thạp vỡ vụn, mảnh tung tóe khắp mặt đường, làm trở ngại đến nửa giờ giao thông. Chiếc xe bộ đội phóng chạy khi thấy Công an áo vàng đạp xe tới. Bà Văn mất một mối hàng. Ngữ mất vốn, lại còn bị cảnh cáo là làm rối trật tự công cộng, phá hoại nếp sống văn hóa mới. Ngữ chuyển sang nghề đạp cyclo từ đó tới nay.

***

Ngữ bằng lòng với cái nghề lương thiện này. Địa điểm hành nghề của Ngữ vẫn xa khu Lý Thái Tổ, cho Quỳnh Trang đỡ ngượng hoặc áy náy vì chồng. Ngữ thường đưa chiếc cyclo chờ khách đi xe lửa ở ga Bình triệu hoặc những khách đi chơi Sở thú, đi chợ Thị nghè. Chàng nghĩ từ đây cho đến lúc già yếu không đạp nổi cyclo nữa, cuộc đời của chàng dính liền với cái yên bọc vải bố của chiếc Cyclo thuê tháng.

Để thơ mộng hóa cuộc sống nhọc nhằn, Ngữ vẫn thường nói đùa với bạn bè rằng, chiếc cyclo là con ngựa hồng đưa chàng đi dạo chơi khắp xó xỉnh của cuộc đời, giúp chàng chứng kiến tận mắt mọi bi hài kịch của nhân sinh, cuộc đời mở rộng đến mênh mông, chàng sẽ đầy đủ chất liệu để nếu có dịp, sẽ viết những tác phẩm lớn.

Những mẩu chuyện chàng kể trong tác phẩm ấy là những mảnh vụn của đời sống, có thể mới nhìn thì rời rạc không liên hệ gì nhau, nhưng từ xa mà nhìn, những mảnh ấy sẽ hợp lại thành một toàn cảnh lớn lao óng ánh đủ màu sắc, giống như những chấm sơn màu trên các bức tranh ấn tượng của Renoir.

Mẩu chuyện Ngữ thích kể đi kể lại với bạn bè là kinh nghiệm đầu tiên khi Ngữ mới bước vào nghề. Hôm đó, Ngữ đưa cyclo ra đón khách ở ga Bình triệu. Là dân mới nhập làng, Ngữ không chọn được những chỗ đắc địa. Các ma cũ cũng không dại gì chỉ vẽ cho Ngữ biết nên chờ chỗ nào thì các con buôn chở hàng về ga thường đẩy hàng xuống để tránh tai mắt bọn công an kinh tế. Ngữ dại dột đẩy xe tới chỗ hành khách ra khỏi ga để đón khách, chờ mãi mới biết mình lầm. Hành khách thường không buôn bán đều có thân nhân dùng xe đạp đèo về, số còn lại nhất định đi bộ để tiết kiệm. Ngữ chờ cả buổi, cuối cùng mừng rỡ được một người đàn ông đội mũ vải màu đen kêu vào ga khuân giúp ông ta mấy gói hành lý, trong khi ông bận tính tiền nong với một người đàn bà cũng có vẻ dân buôn. Ngữ khấp khởi mừng, nghĩ đã gặp được khách sộp, chưa trả giá đã gọi Ngữ khuân hành lý ra xe.

Ngữ khuân mấy gói hành lý ra cyclo xong, lên yên ngồi sẵn để chờ ông khách. Ông này xong công việc, ra khỏi ga vội leo lên ngồi trên cyclo bảo Ngữ chạy về Đa kao. Ngữ quên mất điều quan trọng là ra giá, rướn người bắt đầu đạp. Ông khách, ngược lại, vừa ngồi yên trên nệm xe đã quay lại hỏi Ngữ:

– Giá bao nhiêu hở bác?

Ngữ bật cười, đáp:

– Anh cho mười đồng. Bộ tôi già lắm sao mà anh kêu bác?

Ông khách đột nhiên nhìn sững vào mặt Ngữ, hỏi:

– Ủa, có phải trung úy Ngữ không?

Ngữ chột dạ, quên cả đạp chân lên pédale. Chiếc cyclo chạy hết trớn, rồi dừng lại ở vệ đường. Ông khách vội nhảy xuống xe, giọng rối rít:

– Phải rồi, đúng trung úy. Ông thầy, không nhớ em sao ông thầy? Em là trung sĩ Cương ở Phú bổn.

Ngữ nhớ lại hết! Đúng là anh trung sĩ làm việc dưới quyền Ngữ suốt hai năm ở Cheo reo. Ngữ mừng rỡ nhảy xuống xe:

– Ủa Cương. Cậu đội mũ tôi không nhận ra. Đi đâu đây?

– Em vừa từ Tuy hòa vào đây thăm mấy đứa em. Sẵn tiền mua một ít hàng bán để bù tiền xe. Trung úy khổ quá, trung úy.

Ngữ cười, giấu chua chát:

– Cả nước khổ chứ đâu phải chỉ một mình tôi. Cương lên xe đi, tụi mình vừa đi vừa nói chuyện.

– Úy, em đâu dám, ông thầy. Em út mà ngồi để cho ông thầy cong lưng đạp thì còn trời đất gì nữa. Đa kao cũng gần mà. Em phụ ông thầy đẩy xe để thầy trò mình vừa đi vừa nói chuyện.

Ngữ lắc đầu:

– Không được. Tôi đạp cyclo để sống, thầy bà gì nữa đâu. Anh lên xe đi. Anh đi cyclo của tôi cũng như đi xe của người khác.

Anh trung sĩ không dám, cũng không biết phải giải quyết ra sao, vì dù đã nói cả hai đều biết không thể cứ đi bộ đẩy chiếc cyclo từ đây về tới Đa kao. Cuối cùng, Cương đề nghị:

– Thôi em đề nghị thế này cho phải đạo. Ông thầy ngồi lên đi, để em đạp cyclo cho.

Ngữ dẫy nẩy:

– Không được. Hôm nay tôi ra nghề, làm như vậy chướng lắm. Thôi, tôi dung hòa. Tôi đạp một đoạn. Cương đạp một đoạn. Tôi bớt tiền xe, chỉ lấy năm đồng thôi.

Cương cười:

– Cũng được. Em xin trả đủ tiền xe cho ông thầy. Ông thầy cho em được đạp xe chở ông thầy trước để đúng hệ thống quân giai, quan ra quan, lính ra lính. Gần tới Đa kao thì ông thầy chở em, để tụi em của em khỏi tưởng em điên!

***

Những lần chở khách về miệt Tân bình, Ngữ thường tiện đường ghé thăm gia đình Trung tá Thanh. Mỗi lần đến, Ngữ thấy căn nhà cũ tiều tụy xơ xác thêm. Những gì gỡ được đem ra bán chợ trời đều đã gỡ mất, từ gạch hoa trên nền nhà, cái đồng hồ đo điện, ngọn đèn néon, mấy tấm tôn lợp mái chái bếp. Cả nhà đổ ra đầu đường tìm sống. Bà Thanh nghe lời Quỳnh Trang bán đồ cũ một thời gian không khá, trở về vùng Chí hòa tìm chỗ mở quán cà phê vỉa hè. Cô con gái đầu lòng tốt nghiệp xong trường phổ thông cấp ba Nguyễn Thị Minh Khai thi vào đại học không đậu do lý lịch xấu, đành ở nhà phụ mẹ bán cà phê. Sắc đẹp ngoan hiền của cô giúp cho quán cà phê đắt hàng, mà mấy cậu Công an phường Chí hòa cũng không nỡ làm khó dễ. Cô con gái kế thấy học hành tới nơi tới chốn cũng không được gì, xong lớp 11 thì tự ý ở nhà, thay chị bán cà phê để bà chị giàu kinh nghiệm đi mở thêm một quán cà phê khác gần Ngã ba Ông Tạ. Cậu con trai út (mà một lần Ngữ gặp ông Thanh dẫn con đi ăn kem ở tiệm Mai Hương) nay đã là một cậu thiếu niên cao mà gầy, mép lún phún râu măng, mặt có mụn và tiếng nói bị bể giọng. Mỗi lần Ngữ tới cậu út thường nằm quấn chăn ngủ ngay trên sàn nhà lồi lõm một cách ngon lành, chủ khách nói lớn tiếng bao nhiêu vẫn không lay nổi cậu dậy. Bà Thanh thường ái ngại nhìn con, nói như xin lỗi:

– Chú Ngữ đừng phiền nhé. Cháu nó ngủ bừa bãi, trông luộm thuộm đến là! Đêm qua cháu vác bột cả đêm, mệt quá.

Bà Thanh xin cho con một chân tổ viên tổ hợp sản xuất mì sợi, một nghề thịnh hành thời bấy giờ. Như vậy là cả gia đình đều phải lao ra đường kiếm sống, không ai ở không. Bốn người cùng đi làm, thế mà gạch hoa cứ lần lượt chạy ra chợ trời đường Cách mạng Tháng Tám, tôn gỗ chạy xuống bến Chương dương. Lần đầu tiên được giấy phép ra thăm nuôi chồng, bà Thanh vẫn phải lên Lý Thái Tổ vay tiền Quỳnh Trang. Mỗi lần Ngữ ghé thăm, bà Thanh vừa mừng vừa lo, vì gặp Ngữ lại cứ nhớ đến các món nợ cũ, cứ nghĩ Ngữ lên đòi nợ hộ vợ.

Lần thứ nhất đi thăm nuôi chồng ở Thái nguyên về, bà Thanh tìm Ngữ để kể cho Ngữ nghe tình trạng sức khỏe của ông Thanh. Hồi đó ông còn khỏe, dù có ốm hơn trước nhiều. Bà không lo lắng cho sức khỏe của chồng. Bà khóc với Ngữ, vì bà nghĩ tâm hồn ông đã đổi khác. Đổi khác thế nào? Bà Thanh thú nhận chỉ biết mơ hồ, nhưng nhất định là đã đổi. Bà bảo giữa vợ chồng có những liên cảm tế nhị mà chỉ cần nhìn lướt qua, bà thấy ngay. Vất vả một tuần đi đường, đến nơi bà chỉ được gặp chồng không được nửa giờ. Trừ đi thời gian hai người nghẹn lời im lặng nhìn nhau, thời gian bà khóc và ông dỗ, thật ra họ chỉ còn độ mười phút tâm tình. Bà nói với Ngữ:

– Chú biết tính anh rồi chứ gì? Cái gì không phải, anh nói ngay. Anh ấy thích cái gì cũng rõ ràng, quang minh. Tôi gặp anh ấy, nói vài lời đã thấy có gì khang khác. Tôi kể chuyện nhà, bảo cháu Thục mở hàng cà phê ở Ngã ba ông Tạ, khéo ăn khéo nói nên nhờ Trời quán cũng đông khách, một cậu người Hoa dưới Chợ lớn mê con bé ngày nào cũng ghé lại, còn hứa là nếu cháu cho làm đám cưới, gia đình cậu sẽ đưa cả gia đình tôi vượt biên. Tôi kể cho vui miệng để nhà tôi yên tâm chuyện sinh sống của bốn mẹ con ở nhà, thế thôi. Tôi còn sợ nhà tôi trách không dạy dỗ chăm sóc các cháu gái lớn, nên nói thêm là cháu Thục cười quá, bao nhiêu lời tán tỉnh của cậu kia đem về kể hết cho tôi nghe. Chú Ngữ biết nhà tôi nói gì không? Nhà tôi nghiêm nghị bảo là nếu tôi thấy được, nên cho cháu Thục lấy chồng. Nhà tôi còn nói… còn nói rằng nếu có cơ hội ra đi, thì bốn mẹ con nên đi, nhà tôi ra trại sẽ tìm cách đi sau. Tôi lo quá. À, tôi quên chưa kể cho chú nghe là khi nộp giấy phép để thăm anh, ông Công an giám thị đọc tên anh xong, nhếch mép cười rồi bảo tôi rán giáo dục chồng. Hắn nói anh còn ngoan cố lắm, chưa chịu cải tạo tốt.

***

Cuối năm 1979, lúc tình hình biên giới Hoa Việt căng thẳng rồi Trung quốc mở cuộc tấn công qua Việt Nam sau khi Việt Nam đưa quân qua Kampuchia lật đổ chính quyền Pol Pot, trung tá Thanh được chuyển từ Thái nguyên về trại tù ở Thanh hóa. Bà Thanh biết được điều đó khi nhận giấy phép thăm nuôi chồng lần thứ hai.

Ngữ ghé thăm đúng vào lúc gia đình bà Thanh đang bối rối. Không phải như những lần trước, bà Thanh lúng túng lo âu chuyện tiền nong. Hai quán cà phê đều có khách đông, bà đã trả được một phần nợ cũ. Phí tổn một lần thăm nuôi ngoài Bắc cao, nhưng vào lúc này, bà đủ sức tự lo lấy, khỏi phải vay mượn Quỳnh Trang. Điều khiến bà Thanh bối rối là những biến động hoang mang xảy ra gần đây dưới Chợ lớn. Phong trào vượt biên bán chính thức bắt đầu, gia đình cậu thanh niên người Hoa mê Thục đang liên lạc với chính quyền để đứng ra đóng tàu vượt biển. Cậu vẫn say mê Thục, nhắc lại đề nghị cũ mỗi lần ghé quán cà phê. Cô gái chưa có nhiều cảm tình với người khách mê mình, nhưng nghĩ tới cuộc sống trong một nền văn hóa khác, giữa một tập tục khác tại một nơi chốn khác, Thục vẫn thấy có cái hấp dẫn quyến rũ, khác hẳn nếp sống đều đặn, nhàm chán, khổ cực lâu nay. Thục đem hết mọi chuyện kể với mẹ, vừa hy vọng mẹ chấp nhận để bước thêm một bước vào cuộc đời mới, lại vừa mong mẹ chối từ để chấm dứt chuyện nhì nhằng này đi. Bà Thanh do dự. Bà muốn bàn kỹ với chồng việc này. Bà định nếu ông Thanh đồng ý, bà sẽ cho vợ chồng Thục dẫn hai đứa em ra đi, còn bà thì ở lại chờ chồng về. Bà nghĩ giải pháp đó là cách duy nhất cho các con có tương lai, tuy bà vẫn lo là rồi ra Thục có thể thích hợp với một nếp sống xa lạ hay không, và vợ chồng bà sẽ thế nào khi phải đành đoạn xa cách ba đứa con thân yêu.

Bà Thanh hỏi Ngữ:

– Chú nghĩ sao? Chú nghĩ nhà tôi có thuận không?

Ngữ suy nghĩ một lúc, rồi đáp:

– Em nghĩ có lẽ anh Thanh sẽ bằng lòng. Thật ra chỉ còn cách đó. Vả lại chính anh đã nói với chị chuyện đó từ kỳ thăm nuôi trước.

– Không. Lần trước anh ấy nói thế, nhưng giọng nói không vui. Giọng anh ấy như giọng người thất chí, chán nản. Họ đưa nhà tôi vào Thanh hóa thì chắc là sắp cho về, phải không chú?

Ngữ nói cốt cho bà Thanh vui:

– Có lẽ thế. Dù sao ở Thanh, khí hậu cũng đỡ hơn ngoài Thái.

– Tôi nghe người ta nói cái trại đó nổi tiếng lắm. Bọn cai tù gay go lắm, không biết họ dọa cho tôi sợ hay đúng như thế?

Ngữ hỏi tên trại giam, nói dối lần nữa:

– Họ dọa đấy chị ạ. Chị đỡ phải đi thêm một đoạn đường.

– Tôi tính dẫn cháu Thục theo để nó thưa chuyện với bố, sẵn anh ấy có căn dặn gì thì căn dặn. Nên không hở chú?

– Chị nghĩ như thế cũng phải. Nhưng hàng họ ai trông?

– Con Hiền nó trông hộ chị nó. Đằng nào nếu đi được, ba chị em qua đó thì con Thục làm lớn, trách nhiệm nhiều. Bố con cần gặp nhau để anh ấy dặn dò khuyên nhủ con.

Ngữ hỏi ngày bà Thanh đi thăm nuôi, hứa hôm đó sẽ đem cyclo đến chở hai mẹ con bà lên ga.

Đúng hẹn, Ngữ đến nhà Trung tá Thanh thì gặp cảnh ba bốn người công an đang xúm lại tra vấn chủ nhà. Ông Thanh đã trốn trại, và họ nghi là ông đã về Sài gòn và ghé thăm vợ con.

Năm tháng sau, cả gia đình bà Thanh vượt biển theo diện người Hoa. Không ai biết ông Thanh còn sống hay đã chết, và nếu còn sống thì đang ở đâu.

____________________

Tháng Tư 6, 2010

Mùa Biển Động Chương 180

Chương 180

Ngữ đọc đi đọc lại cả tập nhật ký, xé bỏ những phần nào “nguy hiểm” cho hạnh phúc gia đình rồi mới cho vào túi vải. Chàng dọn dẹp lại căn lều để sáng mai về Sài gòn. Ngữ đã quyết định không bao giờ xuống đây nữa, dù phải sống bất hợp pháp ở Sài gòn. Sức chịu đựng của Ngữ đã cùng kiệt!

Từ ngày có những lộn xộn ở dọc biên giới Hoa Việt và Việt Miên. Ngữ gặp quá nhiều khó khăn trong đời sống. Ở cái xứ rừng quạnh hiu dân cư thưa thớt này, Ngữ trở thành “sĩ quan ngụy” có cấp bậc cao nhất, thành phần nguy hiểm nhất mà Công an xã cần phải thường xuyên theo dõi quản chế.

Ngữ bị Ủy ban xã gọi lên hạch hỏi về chuyện mua vườn, viên chủ tịch lớn tiếng tra gạn vợ chồng Ngữ đã lo lót cho ai bao nhiêu để mua đất một cách hợp pháp như vậy. Công an xã thì hỏi Ngữ lên rừng hằng ngày làm gì, mượn cớ đốn củi để đi liên lạc với ai, toan tính những gì. Ngữ nói thẳng là chỉ còn một cách mưu sinh duy nhất là đốn củi bán cho hành khách xe lửa, vì chuối bán cho thương nghiệp chỉ được cái giấy biên nhận để lãnh tiền ở Ngân hàng huyện, mà ngân hàng thì không có tiền mặt để giao cho khách. Nhiều đêm Ngữ không được phép ngủ ở lều, phải trình diện ở trụ sở ủy ban xã. Hễ xã cần người nộp cho huyện để đi làm thủy lợi là cán bộ nhớ ngay tên Ngữ. Việc còn lại là dọn dẹp mang về những thứ thật cần thiết, thứ gì cồng kềnh cứ bỏ lại, lén lên tàu về Sài gòn mà không bị ai chú ý.

Chuyến tàu chợ chở Ngữ về tới ga Bình triệu lúc sáu giờ chiều. Trông cách ăn mặc của Ngữ, nhất là cái bao cát đựng đồ đạc quần áo Ngữ vác trên vai, nhiều người tưởng Ngữ mới “học tập” về, bu đến vồn vã hỏi thăm. Ngữ ậm ừ nói dối để hưởng những biệt đãi dân Sài gòn dành cho những người sa cơ, ngã ngựa.

Ngữ thấy Sài gòn có một không khí khác thường. Người đi lại trên đường phố thưa thớt hơn thường ngày, xe cộ chạy hối hả, nét mặt ai trông cũng lo âu. Không khí căng thẳng chẳng khác nào không khí trước cơn bão đến.

Quỳnh Trang hớt hải lo lắng khi biết ý định của chồng. Nàng nói:

– Anh về đúng vào lúc bất tiện nhất. Anh hỏi có chuyện gì sắp xảy ra à? Em cũng không biết chuyện gì, chỉ nghe thiên hạ đồn là Nhà nước sắp mở chiến dịch tổng kiểm kê và càn quét văn hóa phẩm phản động đồi trụy. Kỳ này họ làm lớn làm dữ chứ không lẻ tẻ như mấy kỳ trước. Nghe nói họ chở cả cán bộ, sinh viên từ ngoài Bắc vào để tiếp tay Công an quét một lần cho sạch. Sinh viên ở các trường cũng bị trưng dụng, liên tiếp học tập để chuẩn bị ra tay. Không ai được về nhà. Mấy ngày nay em với thầy me lục lọi hết sách báo băng nhạc cũ đem đi đổ. Em muốn giữ mấy cuốn sách của anh lại mà me không cho.

Ngữ chán nản bảo vợ:

– Thôi đốt quách đi cho tiện sổ sách. Anh không thiết gì nữa. Anh chỉ muốn được sống yên ổn.

Quỳnh Trang nói:

– Em lo quá. Nếu chúng nó ập vào nhà kiểm kê hộ khẩu, thì anh khai làm sao?

Ngữ giận dữ nói:

– Họ bỏ tù anh càng mừng. Sống tủi nhục như mấy năm nay còn khổ hơn ở tù cải tạo. Anh…

Quỳnh Trang ôm Ngữ, khóc không cho chồng nói tiếp. Nàng nói:

– Anh đừng nói dại. Họ có hỏi, anh đừng vội nói thật là đã bỏ Bảo chánh về đây. Họ có kiểm kê chắc là đi ban ngày. Anh xuống dưới nhà má ở tạm, tối về đây với em. Chắc chúng nó làm không lâu đâu. Quá lắm là vài ngày. Anh, anh có nghe em nói không?

Ngữ gật đầu cho vợ yên lòng. Quỳnh Trang hỏi:

– Sao anh chỉ đem có chừng này đồ đạc về?

Ngữ đáp:

– Những thứ cồng kềnh anh bỏ lại. Lén lên tàu cho công an khỏi thấy, anh đâu có thể mang theo nhiều.

Quỳnh Trang ngồi buồn, tiếc rẻ cái chăn còn tốt và đồ soong chảo, chén bát, trước khi nàng nghĩ tới món tiền lớn bỏ ra mua đất. Quỳnh Trang than thở:

– Bỏ ra gần hai lạng vàng mà không nuôi nổi anh đủ năm. Biết như vậy cứ ở Sài gòn lấy tiền đó tiêu còn hơn. Em dại quá, cứ nghe họ dọa bảo nếu xin về Sài gòn, anh không được tha mau như xin về quê sản xuất.

Ngữ vỗ vai vợ, an ủi:

– Thôi, của đi thay người. Có đi một lần về sau anh mới hết còn mơ mộng về quê lập vườn đào ao nuôi cá. Con đâu rồi?

Quỳnh Trang thở dài đáp:

– Anh về đây luôn giúp em coi chừng thằng Bình. Nó lêu lổng ngoài đường với tụi nhỏ bụi đời cả ngày, em lo quá.

***

Cả nhà vừa ăn tối xong thì đài truyền hình loan báo lệnh giới nghiêm một trăm phần trăm kể từ bây giờ cho đến khi có lệnh mới. Chỉ những trường hợp khẩn cấp hoặc cán bộ cần di chuyển công tác mới được ra khỏi nhà. Bà Thanh Tuyến xanh mặt hỏi chồng:

– Ông đã đốt hết mớ báo tôi để ở dưới bếp chưa?

Quỳnh Trang trả lời thay cha:

– Con còn để lại làm mồi nhen lửa.

Bà Thanh Tuyến hốt hoảng:

– Xuống đốt liền đi. Hay là sẵn tiện lấy giấy báo nấu nồi cơm ngày mai ăn. Chúng nó sợ gì ba cái giấy vụn đó mà làm dữ vậy hở trời!

Ông Thanh Tuyến ngồi điềm nhiên xỉa răng, bảo vợ:

– Tại tụi nó yếu nên nhìn đâu cũng thấy ma. Kể ra để càn quét sách vở cũ mà phải giới nghiêm, thì sách vở cũ cũng có giá lắm. Ngữ, con nên hãnh diện.

Bà Thanh Tuyến nguýt chồng:

– Ngồi đó mà hãnh diện! Ông vào phòng kiểm lại lần chót xem còn thứ gì nguy hiểm không.

Ông Thanh Tuyến vẫn ngồi yên, chỉ vào đầu mình rồi cười bảo vợ:

– Thứ gì nguy hiểm tôi giấu hết vào đây. Thách tụi nó vào đây kiểm kê đấy! Nhưng tôi chưa nguy hiểm bằng thằng Ngữ. Phải vậy không, Ngữ? Thầy chỉ nghĩ mà không viết được. Con viết được, rán chứa cho nhiều vào đầu, sau này còn có dịp.

Ngữ cười, đáp dối:

– Lo ăn chưa đủ thì giờ, tâm trí đâu mà viết. Lạ thật, bốn năm qua rồi mà họ còn sợ sách cũ, thì lạ quá.

Quỳnh Trang nói:

– Em có chị bạn đi sinh hoạt ở hội Trí thức Yêu nước. Trên hội người ta bảo nếu có ai cần giữ tài liệu nghiên cứu thì nên đem gửi cho hội giữ, đừng để ở nhà có thể bị làm khó dễ, mất tài liệu quý đi.

Bà Thanh Tuyến nói:

– Thật à? Như vậy là họ đồn đãi không sai. Thế nào sáng mai chúng nó cũng mở càn quét sách báo băng nhạc cũ. Mình, mình chịu khó vào phòng xem lại lần chót đi. Tụi nhỏ ở phường thấy sách báo tiếng Tây tiếng Mỹ là đâm nghi, phiền lắm. À Trang, con lục lại thư từ con Quỳnh Như gửi về, cái nào dán tem cờ Mỹ thì xé đi. Khổ quá, cứ mỗi lần kiểm lại lòi những thứ nguy hiểm ra.

***

Có tiếng đập cửa hối hả phía phòng trước. Bà Thanh Tuyến lo sợ thì thào hỏi chồng:

– Chẳng lẽ họ làm ban đêm à? Mình ra xem sao?

Ông Thanh Tuyến nói:

– Chắc không phải đâu. Khách hàng của mình hỏi mua cà phê đó.

Ông ra mở cửa. Tường dắt xe gắn máy vào nhà, tự tay khóa cửa lại, rồi nói với cha:

– Thầy me xuống đây con nói chuyện này. Gấp lắm. Ủa, Ngữ về hồi nào?

Bà Thanh Tuyến nói:

– Nó mới về hồi chiều.

Tường có vẻ e ngại khi trông thấy bạn, nhưng cuối cùng vẫn nói:

– Cả nhà xuống dưới bàn ăn đi. Thầy me! con…

Bà Thanh Tuyến cắt lời con:

– Con khỏi lo. Thầy me đã dọn dẹp kỹ rồi.

– Thầy me biết tin rồi à?

Bà Thanh Tuyến nói:

– Họ đồn rầm cả tuần là sắp càn quét sách vở cũ.

Tường nóng ruột nói, giọng hạ thấp:

– Không phải. Nhà nước muốn đánh lạc hướng nên cho tung ra tin đồn càn quét sách vở cũ. Ngày mai họ mở chiến dịch đánh tư sản. Con không biết nhà mình có bị liệt vào thành phần tư sản hay không, nhưng thầy me cũng phải đề phòng. Đã có lệnh giới nghiêm mà con còn về đây là bạo lắm. Nếu ai có hỏi, thầy me đừng khai con có về đêm nay.

Bà Thanh Tuyến và Quỳnh Trang chết lịm vì sợ hãi, còn ông Thanh Tuyến thì vẫn bình tĩnh. Chẳng những thế, giọng ông có vẻ thách đố:

– Tụi nó liệt vào thành phần gì cũng thế thôi. Vào khám nhà chỉ có rác.

Tường vội nói với cha:

– Thầy đừng nên xem thường. Chắc chú Điển đã kể với thầy vụ đánh tư sản ngoài Hà nội. Con mong là gia đình ta lọt sổ, còn nếu nhỡ…

Ông Thanh Tuyến bắt đầu nổi giận. Ông to tiếng:

– Nhỡ cái gì? Tao ỳ cái mạng già thì làm gì được tao. Bất quá tụi nó bắt bỏ tù tao là cùng. Ở tù càng khỏe, đỡ tốn cơm me mày.

Bà Thanh Tuyến gắt chồng:

– Mình! Mình điên rồi! Hãy để cho thằng Tường nó nói hết đã. Con, nếu bị xếp vào hạng tư sản, thì chúng nó làm gì mình?

– Họ kiểm kê tài sản, bắt kê khai xuất xứ các của cải, nếu bị Ban Cải tạo cho tài sản đó do làm ăn phi pháp mà có thì sẽ bị tịch thu. Còn…

Ông Thanh Tuyến cắt lời con:

– Cùng lắm tao đi hốt phân như chú Điển…

Nói tới đó, ông Thanh Tuyến chợt nhớ là Sài gòn không có cái nghề đổ thùng cầu như ở thủ đô. Ông chữa lại:

– Hốt rác cũng sống được, chết đâu mà lo. Bây giờ tao mới tiếc là đã không cho vợ chồng con Như bảo lãnh sang Mỹ. Me mày nhất định ở lại chờ mày về, nói thế nào cũng không nghe. Bây giờ thì sáng mắt ra hết. Chờ mày về, chỉ thêm khổ. Mày theo chúng nó được cái gì? Cái thân mày, vợ con mày mày nuôi còn không đủ no. Con Nam nó không thậm thụt về đây xin tiền me mày, mà tiền của me mày là tiền con Như gửi về giúp đỡ, thì liệu mày có đủ xăng chạy Honda đi làm không…

Bà Thanh Tuyến nghe chồng nói những lời quá nặng nề với con, vội can:

– Mình giận quá mất khôn rồi! Con nó liều lĩnh về báo tin cho biết trước để đề phòng mà còn đổ hết giận dữ lên đầu nó. Tường, thầy con hận Nhà nước đã lâu, nay trút hết lên đầu con cho hả tức. Con đừng buồn. Me cảm ơn con, me sẽ coi lại mọi thứ để nếu nhỡ họ ập vào kiểm kê tài sản, mình còn có chút tiền sống cầm hơi. Trong nhà với nhau me nói thật, nhà ta đã khánh kiệt từ hồi đóng thuế rồi. Me với con Trang chạy ngược chạy xuôi buôn bán chỉ đủ ăn, có chút tiền dư đề phòng khi đau ốm là nhờ quà con Như gửi về. Con đừng lo, nhà mình không của chìm của nổi gì để họ kết tội được.

Tường ngước lên thầm cảm ơn mẹ, rồi tránh nhìn thẳng vào mặt cha, ngửng lên trần nhà nói chung cho mọi người nghe:

– Chính sách chung của Nhà nước như thế, con làm gì được. Thấy gia đình vất vả con cũng không sung sướng gì. Đáng lẽ Nam không nên về xin tiền của me. Con sẽ cấm Nam…

Tường nói đến đấy, nghẹn lời không nói hết câu. Bà Thanh Tuyến vội đến gần bên con, ôm vai Tường nói:

– Con đừng tự ái hão mà về la rầy con Nam. Con cái đứa nào cũng là con, me giúp đỡ được gì thì giúp. Con Như gửi tiền về để cho cả nhà đỡ khổ chứ đâu phải để me cất giữ tiêu riêng. Con Trang cần tiền mua vườn cho thằng Ngữ, me cũng lấy tiền bán thuốc con Như gửi về bù thêm vào cho đủ. Phải không Trang?

Quỳnh Trang gật đầu, nói:

– Dạ. Anh, anh đừng la rầy gì Nam cả. Anh Ngữ nữa, anh cũng không được nói chuyện này cho Nam nghe.

Tường ngồi im lặng thật lâu. Cả phòng không ai nói gì. Không khí vừa căng thẳng vừa thê lương. Một lúc sau, Tường nói:

– Con phải về. Hôm nào rảnh Ngữ lại chỗ mình chơi.

Ngữ nói:

– Vâng. Để xem hôm nào thuận tiện, rủ luôn thằng Ngô. Cả ba đều ở Sài gòn mà chưa lần nào gặp nhau đông đủ. Thôi, mày… thôi anh về! Hẹn gặp lại sau.

***

Đúng như Tường đã báo trước, ngay đêm đó, lợi dụng giờ giới nghiêm Nhà nước đã chở người tới từng phường để nhận công tác. Từng nhóm ba hoặc bốn người được phân công đến đóng chốt và kiểm kê một gia đình tư sản, hồ sơ giấy tờ được giao trước để nắm vững tình hình. Tờ mờ sáng, các toán đến mục tiêu, đứng lảng vảng giả vờ như khách đi đường chờ xe để đúng giờ hẹn là bất thần ập vào nhà, bắt đầu “làm việc”.

Toán đến kiểm kê hiệu trà của ông bà Thanh Tuyến gồm ba người, hai thanh niên và một thiếu nữ. Họ gõ vào cánh cửa lưới sắt lâu nay thường đóng im ỉm vào lúc tám giờ. Nghe tiếng gõ cửa không giống mật hiệu những khách hàng mua trà và cà phê, bà Thanh Tuyến giật mình biết tai họa đã tới. Bà lýnh quýnh không xỏ được chân vào dép, ông Thanh Tuyến thấy vợ sợ hãi quá, thay vợ ra mở cửa.

Thanh niên người Bắc có vẻ như trưởng toán bắt gọi vợ chồng Ngữ, ông bà Thanh Tuyến ra đông đủ, bắt đứng chung một chỗ để nghe anh ta đọc lệnh kiểm kê. Sắp sửa đọc, anh trưởng toán chợt hỏi:

– Trong nhà sau còn có ai nữa không. Sao trong đó còn tiếng động?

Quỳnh Trang vội nói:

– Còn cháu nhỏ của tôi. Chắc nó vừa thức dậy.

– Chị vào dẫn cháu ra đây.

Quỳnh Trang vào phòng dẫn con ra. Thằng bé mắt nhắm mắt mở kinh ngạc nhìn ba người lạ. Nó định hỏi, nhưng thấy nét mặt nghiêm trọng của người lớn, thằng Bình ngoan ngoãn đứng sát bên mẹ, tay nắm chặt lấy vạt áo Quỳnh Trang. Người trưởng toán đọc lệnh kiểm kê của Ủy ban Nhân dân Thành phố, rồi chỉ định cô thiếu nữ ở lại xem chừng người trong nhà, còn anh ta và người thanh niên mặc áo sơ mi trắng cụt tay thì theo bà Thanh Tuyến và Quỳnh Trang đi xem sơ lược qua khắp nhà. Hai thanh niên có vẻ thất vọng vì cảnh nhà khá tiêu sơ, đạm bạc. Người trưởng nhóm cau mày hỏi Quỳnh Trang:

– Chị giấu hàng ở đâu?

Quỳnh Trang ngạc nhiên hỏi lại:

– Hàng gì?

– Theo hồ sơ Ban Cải tạo thì gia đình chị bán trà và cà phê cho cả thành phố, trước giải phóng lại còn mở xưởng sản xuất nhạc ngụy nữa. Sao không thấy máy móc vật tư gì hết cả?

Quỳnh Trang giận quá nên hết cả sợ, cười khẩy rồi hất mặt lên nói:

– Đấy. Máy móc là cái máy xay cà phê cà tàng ở chỗ góc phòng. Mô tơ bị cháy rồi, anh muốn thử thì cắm điện vào. Vật tư là mấy cái thùng giấy rách đó, các anh cứ kiểm kê đi.

Người thanh niên mặc áo sơ mi trắng nói:

– Chúng tôi được lệnh ăn ở ngay tại đây cho tới khi xong công tác, nên tốt hơn hết là bà và chị nên thành thật cho chúng tôi dễ làm việc. Công tác càng lâu càng phiền cho gia đình, phần tôi lại còn phải về đi học. Bà và chị lên nhà trước làm một số thủ tục, rồi chúng ta bắt đầu kiểm kê. Từ giờ phút này, không ai được mang bất cứ vật gì ra khỏi nhà, cũng không ai được đi đâu.

Từng người phải khai lý lịch theo công tác bắt buộc. Trưởng toán không ghi chép các lời khai, chỉ lấy cây bút chì dò theo những chi tiết lý lịch Ban Cải tạo đã thu thập trước rồi căn cứ vào đó để xếp thành phần tư sản. Ông Thanh Tuyến bị vặn hỏi lâu nhất. Ông phải khai lại cả thời ông giúp cha thầu xây cất các đồn bót cho quân đội Pháp ngoài Bắc, thời ông mở tiệm buôn bán máy thu thanh ở phố Trần Hưng Đạo Huế. Ông chưa kịp khai, người trưởng toán đã nhắc ông nhớ thời ông hùn hạp với Mân thầu đổ rác cho quân đội Mỹ tại Đà nẵng, cuối cùng, là thời kỳ hùn hạp với vợ chồng Diễm mở trung tâm sản xuất băng nhạc. Đang nghe ông Thanh Tuyến kể, người trưởng toán chợt hỏi:

– Lâu nay người con cả của ông có thường về thăm nhà không?

Đã chuẩn bị trước, ông Thanh Tuyến đáp:

– Nó bận công tác, ít khi về.

Người trưởng toán nhìn một lượt khắp nhà, hỏi:

– Tại sao quá trình của ông phức tạp như thế mà tài sản chỉ có chừng này? Những máy móc sản xuất băng nhạc của ông đâu rồi?

Ông Thanh Tuyến cười nhạt, đáp:

– Thằng con phá gia của tôi đã khuân đem nộp cho Cách mạng từ ngày giải phóng rồi. Còn anh muốn biết thì lên Thành đoàn mà hỏi. Người trưởng toán đăm đăm nhìn ông Thanh Tuyến với đôi mắt lạnh và sắc rất chuyên nghiệp, rồi cảm ơn ông, quay sang lấy lời khai bà Thanh Tuyến.

Người thanh niên mặc áo sơ mi trắng và cô thiếu nữ thì tỏ ra thiếu hẳn khả năng thẩm vấn chuyên nghiệp, hỏi Quỳnh Trang và Ngữ những câu rời rạc chẳng ăn nhập vào đâu cả. Cô gái hỏi tên thằng Bình, từ đó nói chuyện sa đà với Quỳnh Trang về thời kỳ chiến sự sôi động năm 1972. Cô thú nhận mình cũng thuộc “gia đình ngụy”, và hiện đang học trường Đại học Kỹ thuật Phú thọ. Cô cho biết chàng thanh niên đang hỏi chuyện Ngữ học Đại học Sư phạm, nhưng thuộc gia đình cách mạng, đang cố lập công để được vào Đoàn.

Đến trưa, cán bộ Ban Cải tạo đến kiểm soát diễn tiến công tác kiểm kê. Lũ trẻ rắn mắt hàng xóm bất chấp lệnh giới nghiêm ra đường đứng từng nhóm xì xào chỉ trỏ vào hiệu trà. Chúng lớn lên và được tận mắt chứng kiến những thay đổi ngoạn mục của căn phố đó. Từ đám cưới rình rang ồn ào của một cô gái con bà chủ lấy chồng Mỹ cho tới ngày một ông bộ đội không biết từ đâu về ra vào ăn ở nhà đó, về sau mới biết là trưởng nam của bà chủ. Thêm một ông rể ngụy mất biệt bao năm một hôm quần áo lôi thôi ôm bao cát đựng quần áo về hiệu trà, cô con gái lớn của bà chủ chạy ra ôm chồng khóc mừng. Bây giờ công an cán bộ ập vào căn nhà đó lục soát, tra hỏi. Thế là thế nào? Lũ trẻ tò mò mỗi lúc một bạo dạn hơn, nhiều đứa đã lấp ló ngay trước cửa. Toán cán bộ cải tạo phải ngưng việc ra đuổi chúng đi. Họ ngỡ ngàng thấy tờ kiểm kê ngắn ngủn, đồ đạc gia sản không có thứ gì quan trọng. Trưởng toán được gọi ra đường hội ý riêng với Ban Cải tạo, sau đó chiếc Jeep trắng chạy đi.

Qua khỏi thời gian hồi hộp sợ hãi, bà Thanh Tuyến và Quỳnh Trang trở nên bạo dạn, liều lĩnh hơn. Không cần xin phép ai, Quỳnh Trang xuống bếp lấy gạo nấu cơm. Bà Thanh Tuyến cũng không cần xin phép sử dụng tài sản Nhà nước, tự tiện bật truyền hình xem cho đỡ buồn. Chương trình đặc biệt chiếu loại phim gián điệp gay cấn của Hungary, lâu lâu chương trình bị ngưng để đài truyền hình loan tin sốt dẻo về chiến dịch đánh tư sản: một thanh niên người Hoa giác ngộ cách mạng đã chỉ cho ban kiểm kê chỗ cha mẹ giấu vàng, một tên tư sản xấu bị bắt tại trận lúc dùng Vespa và một cái giấy công tác giả chở hai chục lượng vàng đi gửi nhà người khác.

Bốn giờ chiều, Ban Cải tạo gửi thêm hai người nữa tới hiệu trà để thay thế hai sinh viên làm việc thiếu chuyên nghiệp. Hai người mới tới quả nhiên tỏ ra thành thạo hơn, lập trường vững chắc hơn. Một lần nữa ông bà Thanh Tuyến lại bị gọi ra cật vấn, khuyến dụ, đe dọa để thành thật khai báo những tư trang của cải vàng bạc đã chôn giấu. Ông Thanh Tuyến giận quá, la lớn:

– Các ông không tin thì cứ đào hết nền nhà ra mà tìm.

Cán bộ cải tạo không cần phải làm như ông Thanh Tuyến nói, nhưng họ bật hết những ngọn đèn trong nhà, quan sát tỉ mỉ những dấu tích khả nghi trên tường, trên nền gạch. Họ lấy chân giày ấn lên từng miếng gạch hoa để xem miếng gạch nào đã bị gỡ lên để chôn giấu vàng bạc. Một người khác trèo lên trần rọi đèn pin xem xét từng chỗ tôn ghép nối, từng cái đầu kèo.

Ngữ ngồi một chỗ quan sát kỹ từng cử chỉ của họ, tuy lòng bực bội nhưng cũng tự an ủi là biết đâu có ngày chàng sẽ phải viết lại cái hoạt cảnh bi hài này.

***

Mãi tới hôm sau, Ngữ mới rời được khỏi hiệu trà. Toán kiểm kê đã rút đi, sau khi niêm phong tất cả đồ đạc tài sản trong nhà (chỉ trừ quần áo, chăn gối, đồ nấu ăn và vài thứ đồ dùng lặt vặt) và bắt ông Thanh Tuyến ký vào biên bản, cam kết giữ gìn tài sản Nhà nước. Mọi người thở phào nhẹ nhõm, vì thoát được cảnh sống bị dòm ngó theo dõi với những đôi mắt lạnh lẽo nghi kỵ.

Bà Thanh Tuyến bảo con gái chở đi một vòng quan sát tình hình, và khi biết nhà một số bạn buôn của bà vẫn còn bị các toán kiểm kê đóng chốt, bà suy diễn ngay rằng Ban Cải tạo đã xem gia đình bà thuộc hạng nhẹ, chỉ “đánh” khẽ mà thôi.

Quỳnh Trang không lạc quan dễ dàng như mẹ. Nàng mếu máo nói với chồng:

– Anh ở đây không được nữa rồi. Anh đã trốn về đây, mà lại chui vào chỗ đang bị theo dõi, thì càng nguy hơn. Vâng, em biết chắc họ chỉ giả vờ rút đi để cho người rình xem mình có động tịnh gì không. Chúng nó không chịu tin lời mình đâu, anh nên xuống Thị nghè ở tạm với má một thời gian. Em và con sẽ xuống thăm anh luôn. Anh nên đi ngay hôm nay. Khổ thân em, có đời thuở nào vợ lại cứ xua chồng đi xa mình như em đâu!

Ngữ thấy vợ hoang mang nhìn đâu cũng ngờ vực, cười bảo vợ:

– Em thật như con chim bị tên nhìn cành cây cong nào cũng tưởng là cái cung. Tụi nó rút vì quy kết lầm gia đình mình, thế thôi.

Quỳnh Trang cãi:

– Em có giác quan thứ sáu, em biết hơn anh. Không tin anh thử ôm kè kè một cái bọc ra khỏi nhà thử xem. Phải rồi, anh đem theo bọc quần áo để về dưới đó còn có đồ để thay đổi. Nếu anh đi một đoạn đường mà có người chận anh lại lục soát, thì em đoán đúng. Anh nhớ bọc theo tờ giấy phép của Bảo chánh. Họ hỏi, anh nhớ đáp là về lại Bảo chánh để sản xuất.

Ngữ hôn vợ con, chào ông bà Thanh Tuyến rồi ôm bọc quần áo rời khỏi tiệm trà. Hết lệnh giới nghiêm nên phố xá đông đảo trở lại. Chàng rẽ về phía tay trái tới bến xe buýt, vì chiếc Honda của Quỳnh Trang đã bị kiểm kê. Khi Ngữ tới chỗ băng ngang qua đường, một người thanh niên ngồi uống cà phê dưới gốc cây trông thấy Ngữ vội đứng dậy, tới gần chàng xin diêm để mồi điếu thuốc Đà lạt gắn sẵn trên môi. Ngữ kẹp cái túi quần áo vào nách để rảnh tay lục túi quần tìm cái bật lửa Zippo. Thanh niên lạ mặt phất tay ngầm bảo Ngữ khỏi cần tìm cái bật lửa nữa, và nói nhỏ với Ngữ:

– Tôi là Công an phường. Yêu cầu anh cho tôi kiểm soát cái túi.

_______________________

Tháng Tư 5, 2010

Mùa Biển Động Chương 179

Chương 179

Trích nhật ký của Ngữ

Bảo chánh ngày…

…Như thế là đời sống ta tạm ổn định. Không biết ngày xưa Tô Đông Pha lúc bị đi đày có được như mình ngày nay không? Một túp lều tranh, cái giường bố, bàn gỗ và cái ghế đẩu, bếp ở góc nhà. Bao gạo hai mươi ký, soong cá kho mặn và hũ dưa chua. Nâng tấm liếp cửa sổ lên, ánh sáng màu xanh nõn lọc qua tàn lá chuối tràn vào phòng, trang giấy trắng tập nhật ký ta đang viết biến thành màu xanh nhạt. Gió lay tàn lá bên ngoài nên cái màu xanh huyền ảo ấy cũng lung linh biến đổi theo lúc đậm lúc nhạt. Chưa bao giờ ta thèm viết cho bằng lúc này. Ta không cô đơn tuy sống xa vợ con bạn bè. Bên cạnh ta có hai tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du và Cao Bá Quát. Người xưa gần gũi với ta hơn người đời nay. Khi chọn sách mang theo “đất trích”, ta chỉ chọn hai cuốn này. Ta đã chọn đúng.

Nhớ mãi đêm Quỳnh Trang khóc kể thực chuyện nhà. Hóa ra số tiền Trang dành dụm lâu nay, lớp góp cho me đóng thuế, lớp tiêu pha hàng ngày, cuối cùng không đủ để trả tiền mua rẫy. Phải mượn cả tiền bán hai thùng thuốc tây Quỳnh Như gửi về mới đủ. Ta long trọng hứa với Trang là chỉ cần tiếp tế gạo trong vòng sáu tháng đầu, sau đó ta tự túc được. Làm thân đàn ông mà không tự nuôi nổi mình thì có cái nhục nào bằng. Bắt đầu từ đây ta mới chính thức sống bằng chính mồ hôi của mình. Ta lạc quan. Ngày nào cũng có vài ba buồng chuối chín tới. Nếu bắt đầu cuốc vườn xới đất và rỉa bắp từ ngày mai, ba tháng sau đã có mùa bắp đầu. Khoảng đất cạnh lều dùng để trồng rau muống hoặc gieo cải. So với những người khẩn hoang như Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc viết lại, ta may mắn hơn nhiêu. Thương Trang vô cùng!

Gần bốn mươi năm sống trên đời, mãi tới bây giờ tai ta mới biết nghe. Tối hôm qua, lần đầu tiên ta nghe trọn được nhạc dế. Trời lạnh nhưng không có gió. Lá chuối chỉ xào xạc mơ hồ làm bè đệm cho hai chú dế tấu nhạc. Rõ ràng hai chú dế thay phiên nhau “hát” cho ta nghe chứ không phải là một. Khúc nhạc dạo đầu tiên hăm hở, khỏe khoắn, có lẽ màng cánh dế rung lên liên hồi giữa bóng đêm đã phát ra thứ âm nhạc rộn rã, mời gọi thiết tha, từng âm thanh ríu rít, nôn nao ngóng trông nhưng cũng đầy tự tin, nghĩ rằng thế nào cũng có hồi âm. Quả nhiên chú dế đầu tiên vừa lên tiếng thì đã có chú dế thứ hai đáp lại. Nhạc dế thanh hơn, khoan thai hơn, âm thanh trong vắt nhưng có cái gì mong manh. Hơi nhạc kéo dài lâu hơn, lúc gần chấm dứt nhạc dế như nhỏ dần, đến lúc chấm dứt ta vẫn còn cảm tưởng âm thanh vẫn còn đó, chỉ vì ở xa nên như một cánh én vụt bay lên cao, đã khuất vào tầng mây mênh mông nhưng không thể bảo không còn cánh én nữa. Cả đời ta chỉ nghe toàn tiếng ồn mà tưởng là nhạc. Không. Lúc tóc bắt đầu có sợi bạc ta mới hiểu thế nào là nhạc. Thật quá trễ, nhưng chưa muộn.

Chương trình làm việc hàng ngày của ta “lành mạnh” nhất từ xưa tới nay. Buổi sáng dậy lúc bảy giờ. Xếp chăn đẩy tấm liếp cửa ra ngoài lều hít thở không khí trong lành của buổi sớm. Ngọn núi xanh trước mặt còn ngây ngất trong sương. Sương còn đọng trên những tàu lá chuối. Đất đỏ thẫm màu và cả đất trời như cùng xôn xao chờ ông mặt trời tới. Bửa củi pha cà phê và nấu soong cơm ăn cho cả ngày. Nhấp từng ngụm cà phê, hút xong điếu thuốc vấn thì soong cơm cũng vừa chín. Cuốc đất vườn cả buổi sáng. Tuần lễ đầu chưa quen tối nằm thân thể mỏi nhừ, hai bả vai và xương sống nhức nhối, nhưng nay thì bắp thịt đã quen, cuốc đất cả ngày tối ngủ vẫn thảnh thơi. Buổi chiều vác rựa đi làm cỏ chuối, ra ga lang thang nhìn những chuyến tàu qua. Ta thấy tâm hồn ta biến đổi: ta không còn ao ước được leo lên tàu đi xa. Ta già rồi chăng? Không. Ta bằng lòng với cuộc sống này.

Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du ta mới thấy lâu nay mình chỉ mới biết được một phần rất nhỏ thi tài của ông, và một phần nhỏ nhoi hơn nữa tâm sự của ông. Ta yêu thơ chữ Hán của Nguyễn Du còn hơn cả Đoạn Trường Tân Thanh, nhất là những bài thi hào làm trong suốt mười năm gió bụi, từ 1786 đến 1795, và những bài làm dưới chân ngọn Hồng lĩnh (1796-1802) sưu tập lại thành “Thanh Hiên thi tập”. Cả đêm ta đọc đi đọc lại bài Ký Mộng

Thệ thủy nhật dạ lưu
Du tử hành vị quy
Kinh niên bất tương kiến
Hà dĩ úy tương ti (tư)
Muồng trung phân minh kiến
Tầm ngã giang chi mi
Nhan sắc thị trù tích
Y sức đa sâm si
Thỉ ngôn khổ bệnh hoạn
Kế ngôn cửu biệt ly
Đái khấp bất chung ngữ
Phảng phất như cách duy
Bình sinh bất thức lộ
Mộng hồn hoàn thị phi?
Diệp sơn đa hổ trĩ
Lam thủy đa giao ly
Đại lộ hiểm thả ác
Nhược chất tương hà y?
Mộng lai cô đăng thanh
Mộng khứ hàn phong xuy
Mỹ nhân bất tương kiến
Nhu tình loạn như ti
Không ốc lậu tà nguyệt
Chiếu ngã đan thường y


Bài dịch của Phạm Khắc Khoan và Lê Thước:

Ghi lại giấc mộng

Dòng nước ngày đêm chảy
Người đi biệt vân mồng
Bao năm không gặp mặt
Lấy gì khuây nhớ nhung
Trong mộng rõ ràng thấy
Tim ta bên bến sông
Mặt mày vẫn như trước
Áo quần hơi lòng thòng
Trước nói chuyện đau ốm
Sau nói nỗi chờ mong
Nghẹn ngào không kể xiết
Phảng phất như cách mùng
Bình sinh không thuộc lối
Mơ mộng biết đúng không?
Núi Điệp nhiều hổ báo
Sông Lam nhiều thuồng luồng
Đường sá hiểm lại dữ
Chân yếu cậy ai cùng?
Mộng đến đèn trong sáng
Mộng tan gió lạnh lùng
Người đẹp không thấy nữa
Vò rối mớ tơ lòng
Trăng tà lọt nhà trống
Soi áo ta mỏng không!

Ta yêu biết bao nhiêu hai câu Nguyễn Du tóm tắt cả cuộc đời ta:

Bình sinh không thuộc lối
Mơ mộng biết đúng không?

Còn về thơ, chỉ cần hai câu năm chữ cuối cùng:

Không ốc lậu tà nguyệt
Chiếu ngã đan thường y

(Trăng tà lọt nhà trống
Soi áo ta mỏng không)

Nguyễn Du đã gói ghém biết bao nhiêu ý. Cần gì dài lời. Mỗi tiếng nói đơn sơ qua bàn tay thiên tài đều trở thành những hạt kim cương, từng mặt lấp lánh phản chiếu muôn ngàn màu sắc của vũ trụ rực rỡ.

Nào, đừng nên buồn vì cuộc sống kham khổ. Người xưa kham khổ hơn ta nhiều. Vừa nhai cơm vừa lật đọc Thanh Hiên thi tập, hồi chiều ta bắt gặp bài giữa trong ba bài Tạp Ngâm:

Tạp Ngâm II

Long vĩ giang đầu ốc nhất gian
U cư sầu cực hốt tri hoan
Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt
Xử sĩ môn tiền thanh giả san
Chẩm bạn chúc thư phù bệnh cốt
Đang tiền đẩu tử khởi suy nhan
Táo đầu chung nhật vô yên hỏa
Song ngoại hoàng hoa tú khả xan

(Đầu sông Long vĩ một gian nhà
Ở ẩn buồn teo vẫn thú a!
Đạt sĩ, cõi lòng trăng sáng tỏ
Cao nhân, trước cửa núi bao la
Sách chồng cạnh gối đỡ thân mệt
Rượu nhắp bên đèn đổi sắc da
Trong bếp suốt ngày không khói lửa
Ngoài song nọ vói khóm hoàng hoa)

Nguyễn Du lúc cùng quẫn đã nghĩ tới chuyện có thể ăn hoa cúc cho đỡ đói. A ha! Ta còn sướng chán!

Ta không cô đơn. Ta không cô đơn. Nguyễn Du ở bên ta, an ủi ta, bầu bạn tâm sự với ta mỗi khi ta chán nản, ngã lòng. Đêm qua mưa dầm, nằm nghe tiếng mưa rơi lộp độp trên lá chuối, ta buồn muốn khóc. Trằn trọc không ngủ được, dở Thanh Hiên thi tập ra xem may rủi như người ta bói Kiều, thì gặp đúng bài Dạ Hành:

Lão nạp an miên Hồng lĩnh vân
Phù âu tĩnh túc noãn sa tân
Nam minh tàn nguyệt phù thiên lý
Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân
Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu
Bạch đầu vô lại chuyết tàng thân
Bất sầu cửu lộ triêm y duệ
Thả hỷ tu mi bất nhiễm trần

(Vị sư già ngủ ngon trong mây núi Hồng lĩnh
Chim âu cũng nằm yên trên bãi cát ấm
Bóng trăng tàn giập giờn trên biển nam, xa nghìn dặm
Trên lối cũ, gió lạnh dồn cả vào một người
Đêm tối mù mịt, không biết bây giờ là bao giờ mãi chẳng thấy sáng
Già rồi, không nên chuyện gì, lại vụng về náu thân
Không lo đi đâu dưới sương, áo bị thấm ướt
Hãy mừng mày râu (vì nhờ có sương) không phải nhuốm bụi

Phải! Rủi hay may, hạnh phúc hay đau khổ chỉ do lòng ta, do cách ta nhìn cuộc đời. Nhờ cơn mưa đêm qua, luống bắp thiếu nước mơn mởn hẳn lên.

Nhật ký ơi! Ta bỏ bạn cả tháng ròng mà đêm nay dở lại bạn, sao lòng ta dửng dưng. Đọc đi đọc lại hai câu cuối bài Dạ Hành, ta thẹn với Nguyễn Du. Ta yếu đuối, ngây thơ, không bằng được người xưa. Đi đâu dưới sương ướt đẫm vai áo, ta lạnh cóng, dù cố bao nhiêu cũng không thể tự an ủi là nhờ sương dày mà bụi đường không bay lên bám cả vào mày râu. Đời sống không đơn giản như ta tưởng. Sống trên mảnh đất của mình, dùng mồ hôi tự trồng trọt lấy để nuôi thân, cái giấc mơ đơn giản nhỏ nhoi ấy, ta tưởng dễ thực hiện lắm. Không. Đời sống ta bắt đầu khốn đốn. Đã có lệnh cấm các chủ vườn không được tự tiện bán chuối nữa, tất cả phải bán cho hợp tác xã tỉnh để đủ chuối mở nhà máy làm kẹo chuối xuất khẩu. Một chị buôn chuối trở thành bà cán bộ tiểu tâm, hống hách. Ngày nào mụ cũng đi rảo khắp các vườn chuối để ghi vào sổ vườn nào có những buồng chuối sắp chín. Ta trở thành tên ăn trộm chuối của chính ta. Khuya nào cũng thậm thụt lén thức dậy ra vườn chặt chuối trộm, rồi nín thở lần mò mang chuối đi giao cho những chị buôn chuối lậu. Miếng cơm trong miệng đắng và cay làm sao!

Về Sài gòn thăm vợ con không vui gì hơn. Đến cả những cuộc ái ân giữa vợ chồng cũng không được hưởng trọn. Đêm hôm trước, giữa lúc ta nhắm mắt lắng nghe xúc cảm càng lúc càng cao lên từng thớ thịt làn da, thì nghe Trang khóc. Ban đầu ta tưởng nàng rên vì cảm khoái, khi biết nàng khóc, ta hốt hoảng, cảm thấy mình đầy cả tội lỗi. Ta trơ trẽn thô bỉ như một tên cuồng dâm. Nguồn hy vọng cho cả gia đình hiện giờ có những gói quà nhỏ của Quỳnh Như. Ta trở xuống đây mà không dám xin Trang một ít tiền mua thức ăn. Bao giờ ta mới đạt được cái đạo sống lẫm liệt như Nguyễn Du?

Lại phải mang cơm nắm đi làm thủy lợi. Không có thì giờ viết gì cho bạn, nhật ký ơi. Ta ghi vội vào đây để hôm nào về nhà viết lại: phải viết về quyền lực. Lạ quá, chưa bao giờ nỗi khát khao quyền lực của từng người được nuông chiều thả lỏng như bây giờ.

Ta quan sát chị buôn chuối thành bà cán bộ thương nghiệp mới thấy do đâu chế độ này tồn tại, mặc dù cả nước là một nhà tù, mỗi người tự nguyện làm tên cai ngục. Chế độ nắm được cái xấu xa nhất trong bản tính con người và tận dụng nó, đó là khao khát quyền lực. Chị buôn chuối lãnh lương tháng không bằng một ngày tiền lời chị chở chuối lên Sài gòn giao cho các vựa trái cây, nhưng chị ta sung sướng hãnh diện thấy rõ. Chị được ngồi chễm chệ trong một văn phòng, những người chị quen bây giờ muốn gặp chị phải xin phép chú bảo vệ, vào phòng chị, phải nhẹ lời, lóm thóm. Chị càng hòa nhã lễ phép họ càng sợ. Chị được ngồi trên ghế nói chuyện với bà con cô bác ngồi chồm hổm trong sân trụ sở Phòng Thương nghiệp, chị pha trò bà con cô bác vỗ tay, chị dừng lại nhíu mày bà con cô bác nín thở lo âu. Chị được nói những tiếng lạ tai như “làm chủ tập thể”, “mình vì mọi người”, “bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, “sản xuất đại trà”… Những ngày đầu chị ăn nói lúng túng, nhưng chỉ vài tuần chị thuộc bài, ăn nói đâu vào đó. Bỏ bạc vạn cũng không mua được cái danh lớn lao bất ngờ này. Chị bỏ con nheo nhóc để làm việc nước, hết ngồi ở văn phòng lại đi rảo các vườn để ngăn ngừa bọn xấu ăn cắp tài sản nhà nước, phá hoại chính sách hợp tác hóa nông nghiệp của đảng!

Hình như Công an xã và Xã đội cư xử với ta tàn tệ hơn trước nhiều cũng do mụ này. Đời ta tàn tạ vì một mụ đàn bà dốt nát hay sao?

Ta học thêm một nghề mới để nuôi thân. Ta thành tiều phu rồi nhật ký ơi! Ta tự thề là từ nay không về Sài gòn xin gạo nữa. Nếu tấm thân còn mạnh khoẻ này mà còn sống nhờ vợ thì nên tự kết liễu đời mình đi cho rồi. Quỳnh Trang đã mua sẵn bao cát gạo cho ta đem đi, nhưng buổi sáng ta giả vờ quên. Không bán chuối được thì ta bán củi. Vẫn là tài sản Nhà nước đấy, nhưng cũng may là nhà nước chưa nghĩ tới kế hoạch xuất khẩu củi ra nước ngoài.

Suốt ngày ta lên rừng đốn củi, cột thành bó chất sát đường xe lửa chở những chuyến tàu đến để bán cho hành khách, ta mệt nhoài. Chắc từ nay ta ít có thì giờ tâm sự với bạn, nhật ký ạ!

Chiều nay khi vội vàng quăng củi qua cửa sổ toa tàu chợ cho khách, ta nghe bên trong toa tàu có tiếng trẻ con khóc thét. Tàu chạy rồi ta đứng ngẩn ngơ. Ta giết thằng bé rồi chăng?

Càng ngày ta càng phải leo núi cao hơn mới kiếm được củi khô và chắc, bán được giá hơn loại củi tươi cành nhỏ. Nhiều hôm nghỉ mệt tìm chỗ đất trống từ trên sườn núi chót vót nhìn xuống, ta ngợp vì trời đất mênh mông. Những toa tàu dưới chân ta nhỏ như cái hộp quẹt. Trời đất mênh mông thế kia sao con người vẫn còn chen chúc ở chốn chật hẹp và tìm hạnh phúc bằng cách làm khổ nhau?

Mấy lúc gần đây ta cũng ngợp vì thơ Cao Bá Quát. Trời ơi! Sao đến bây giờ ta mới gặp Người! Những gì ta học được về Cao Chu Thần ở trung học chỉ là những bộ phó bản nhem nhuốc dị dạng của một hồn thơ lớn lao vô chừng. Bọn sử quan triều Nguyễn đặt điều bôi xấu cho người tử tù thật đáng đem lăng trì và tru di tam tộc!

Thơ Nguyễn Du là tiếng khóc của con người lầm lũi giữa chốn nhân gian. Thơ Cao Bá Quát lá tiếng thét cao ngạo của người đứng trên đỉnh núi. Ta ngợp trước những đỉnh núi trong thơ Cao Bá Quát. Ghi lại vào đây một đỉnh núi từng làm ta ngất ngây:

Quá Dục Thúy Sơn

Thiên địa hữu tư sơn
Vạn cổ hữu tư tự
Phong cảnh dĩ kỳ tuyệt
Nhi ngã diệc lai thử
Ngã dục đăng cao sầm
Hạo ca ký vân thủy
Hữu ước nãi vi tư
Phàm sự đại đô nhĩ!

Dịch:

Qua Núi Dục Thúy
Trời đất có núi này
Muôn thuở có chùa này
Phong cảnh đã kỳ tuyệt
Mà lại thêm có ta đến đây
Ta muốn trèo lên đỉnh cao ngất kia
Hát vang lên để gởi gấm lòng vào mây nước
Ước ao thế mà không được như nguyện
Đại phàm mọi việc đều thế cả

Những hồn thơ lớn không cần nhọc công leo lên đỉnh cao như ta, mới thấy cái nhỏ của nhân gian. Những hồn thơ lớn như Cao Chu Thần tự tay dựng những đỉnh núi ấy, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Như bài Sa hành đoản ca (Bài hát ngắn “Đi trên bãi cát”):

Bãi cát dài, lại bãi cát dài
Đi một bước như lùi một bước
Mặt trời đã lặn mà vẫn còn đi
Khách (trên đường) nước mắt lã chã rơi
Anh không học được ông tiên có phép ngủ kỹ
Cứ trèo non, lội nước mãi, bao giờ cho hết ta oán!
Xưa nay hạng người danh lợi
Vẫn tất tả ở ngoài đường xá
(Hễ) quán rượu ở đầu gió có rượu ngon
(Thì) người tỉnh thường ít mà người say vô số!
Bãi cát dài, bãi cát dài, biết tính sao đây?
Bước đường bằng phẳng thì mờ mịt, bước đường ghê sợ thì nhiều
Hãy nghe ta hát khúc ca “đường cùng”
Phía Bắc núi Bắc núi muôn trùng
Phía Nam núi Nam sóng muôn đợt
Anh còn đứng làm chi trên bãi cát?

Dựng đỉnh núi ngay giữa nơi tù ngục, sau khi bị tra tấn thân xác còn đẫm máu me: bài Đằng Tiên Ca (bài ca Cái roi song):

Sau hôm rằm tháng Chín, khi trời còn dịu
Mặt trời u ám, ban mai không có ánh sáng
Người bị giam cầm xù đầu ngồi trên giường gẫy
Ngọn gió lạnh buốt thổi phần phật vào áo quần
Chợt có lính của bộ đến, tiếng nói lanh lảnh
Gọi ra và thúc giục đến công đường
Đứng dậy mang gông, đi theo sau hắn
Khăn rách xốc xếch, chân bước vội vàng
Lúc vào cửa có lính canh ngục kèm hai bên
Người ở Kinh đô ngơ ngác đứng xem, vây kín như bức tường
Các quan lớn ngồi cùng nhau, dưới có một viên quan nhỏ
Gọi đem những hình cụ ra bày la liệt
Có cái roi song to, dài thật là dài
Da nó tía, mình nó cứng, uốn nó lại thẳng đờ ra
Người bị tội nằm duỗi, vẻ sợ hãi xanh xám
Đầu quay nghiêng, mắt lấm lét, như con dê hoảng hốt
Chân tay căng thẳng, hai mắt quáng lên
Lúc đó là sau trận mưa, hơi thấp độc xông lên đến bàng quang
Giờ lâu bị tra hỏi, miệng không nói được
Chỉ khan vã kêu: “oan, oan” và gào trời
Quan thét lên như tiếng sét, rung cả rường nhà
Roi quất nhoang nhoáng bay đi liệng lại như ánh chớp
Lúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở
Lúc nhừng như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi
Hai cái nọc đứng sững, có vẻ vững chắc
Tiếng rên rỉ vang quanh dãy hành lang
Than ôi! Một cành hoa hải đường đương xuân
Bị bẻ tan nát, không kể gì đến cái hương thơm ở Xương châu nữa
Bấy giờ đã muộn, trời xâm xẩm tối
Ở nơi góc đài, những giọt sương trong cũng vì ta mà bay lên
Roi song rủ xuống, thôi không hăng như trước nữa
Chắp tay đứng, ruột mềm quặn lại như cuốn vào ngón tay được
Được, mất, do mệnh là sự thường
Ta cũng mày mặt như mọi người việc gì mà đau thương?
Ơn nhà, nợ nước chưa chút đền đáp
Là người dũng cảm, đâu có chịu chết ở nơi văn tự!
Chao ôi! Roi song ơi!
Mày thấy không:
Ở phía nam sông Đức giang
Ở đỉnh núi Nguyệt hằng
Trên đó có cây tùng cây bách chết một nửa
Nhưng vẫn cùng nhau đứng trơ trơ giữa trời rét mướt
Ví phỏng có người thợ giải biết dùng, không bỏ nó
Thì những hạng cây như bồ kết và chương não kia có đáng kể gì đâu
Vậy mà còn đẵn phá nó thì có đáng không?

Càng nghĩ ta càng thấy không có gì tha hóa con người nhanh chóng và khủng khiếp cho bằng quyền lực. Ta tưởng tượng một chuyện ngụ ngôn:

Một lãnh tụ chính trị đang hấp hối trên giường bệnh. Các đệ tử bàn nhau tìm cách nào để lãnh tụ lìa cõi trần với một nụ cười mãn nguyện trên môi.

Người đệ tử thứ nhất vào phòng bệnh thưa với người hấp hối:

– Xin cụ rán ở lại với chúng con. Một đời cụ bôn ba vì nước khổ cực, chúng con không dám để cụ sống thiếu thốn đâu. Chúng con đã góp nhau lo đầy đủ cho cụ: một biệt thự ở Đà lạt, tiền bạc cụ cần bao nhiêu cũng có. Cụ chỉ nhắc phôn lên sai bảo, chúng con sẽ mang đến hầu cụ ngay.

Lãnh tụ không thèm mở mắt nhìn, lắc đầu đưa tay xua anh đệ tử lẻo mép đi ra.

Người thứ hai vào thưa:

– Xin cụ rán thuốc thang đều để đủ sức chủ tọa cuộc thi hoa hậu năm nay. Cụ biết không, những người đẹp dự thi trả lời phỏng vấn của báo chí đều nói rằng không có cụ chủ tọa, thì không có ai đủ sức thấy vẻ đẹp của họ. Ngày đêm họ cầu nguyện xin ơn Trên cho cụ chóng bình phục.

Lãnh tụ đuổi anh đệ tử bảnh trai ra.

Người thứ ba vào, vừa khóc vừa than:

– Con một mực tin rằng cụ sống mãi với chúng con để dìu dắt chúng con. Nói lỡ dại nếu cụ mất đi, thì trời ơi, đất nước này sẽ biết về đâu!

Lãnh tụ vội mở mắt, gượng chống tay ngồi dậy. Nụ cười nở trên môi ông, trước khi ông ngã xuống mặt nệm và tắt thở.

Thật giống như một giấc mộng Liêu trai!

Sáng nay ta ngồi đây, giữa đống chăn gối bừa bộn mà lòng cứ bàng hoàng tưởng như chưa bao giờ có đêm qua. Ta đang có hay ta không đang có?

Đêm qua, lúc sắp sửa tắt đèn đi ngủ ta nghe có bước chân ai đi qua vườn, rồi tiến về phía căn lều của ta, dừng lại ở liếp cửa. Ta nghĩ có lẽ mụ cán bộ thương nghiệp đi rình bắt những chủ vườn chặt chuối trộm. May quá ta đã giao buồng chuối cho chị buôn trái cây, không còn gì phải sợ mụ ta nữa.

Không chờ mụ gọi, ta đường hoàng ra mở cửa sau khi đã thắp đèn lên. Ai đứng đó, phía sau là bóng đêm, khuôn mặt huyền ảo lạ lùng trước ánh sáng lung linh của ngọn đèn bão. Diễm! Trời ơi Diễm!

Diễm nói đã nhiều lần đi buôn hàng chuyến trên tàu lửa qua ga xép này nàng trông thấy ta, nhưng vì ta tiều tụy quá, nàng xót xa không gọi ta được. Ta ngượng ngùng trỏ cảnh căn lều, pha trò bảo đấy là “thảo lư” của ta. Diễm nhìn quanh, rồi ôm ta mà khóc. Sáng nay ta nhìn quanh, và nhìn đâu cũng thấy dấu vết của Diễm. Mùi da thịt Diễm còn ươm đầy trên nếp chăn. Mấy sợi tóc mảnh còn rơi lại trên mặt gối. Thỏi son Elizabeth Arden còn bỏ quên. Chiếc khăn nhỏ vắt trên mặt ghế… Diễm dậy sớm ra ga chờ tàu vì không muốn có người trông thấy nàng ở đêm trong túp lều này với ta. Diễm nói: “Em muốn được trở lại thăm anh nhiều lần nữa, nên đừng để cho tụi công an chú ý. Từ đây em chỉ còn một niềm vui là lâu lâu ghé lại đây thăm anh”.

Ta viết những dòng này vào nguyên một trang, để nếu cần phải xé bỏ thì xé đi, khỏi “phiền lụy” đến những trang khác. Ta đang sống thực hay đang mơ đây?

__________________________

Tháng Tư 4, 2010

Mùa Biển Động Chương 178

Chương 178

Ngữ được “tạm tha” vào tháng 9 năm 1978.

Sau mấy tháng tinh thần căng thẳng vì truyện ngắn “Vòng hoa…”, Ngữ như một người leo núi kiệt lực lúc leo đến chóp núi rồi thì nằm vật xuống thở dốc, thân thể rã rời, không còn được hưởng cái khoái cảm thành công nữa. Tự do, ôi hai tiếng lâu nay Ngữ khao khát ước mơ, cuối cùng đã không thần kỳ huyễn diệu như Ngữ tưởng. Nó cũng hiu quạnh xác xơ y như cái ga xép nhỏ nằm giữa rừng bên ngoài trại cải tạo mà thôi.

Về tới nhà, chàng thêm bỡ ngỡ thất vọng. Hóa ra lâu nay qua thư từ và những lần thăm nuôi gặp nhau, Quỳnh Trang giấu không cho Ngữ biết gia đình đã sa sút. Lá thư nào Quỳnh Trang cũng bảo “nhà vẫn bình thường”. Lần thăm nuôi nào nàng cũng mặc bộ quần áo tươm tất nhất, không vải hoa may kiểu sặc sỡ nhưng mầu sậm dung dị, ủi phẳng, quần tây có nếp. Nét mặt Quỳnh Trang lúc nào cũng tươi cười, và nếu Ngữ có hỏi về chuyện đi đường nhọc nhằn, nàng trả lời bằng cái giọng châm biếm nhẹ nhàng, xem như đó là cái thú mạo hiểm của một cuộc cắm trại. Những món ăn liền nàng tiếp tế cho Ngữ đều thuộc loại sang. Rõ ràng tuy có đổi đời, nếp sống gia đình vẫn được như cũ. Ngữ yên tâm, thầm hãnh diện khi so với các món thăm nuôi nghèo nàn gồm lơ thơ một nải chuối, hũ dưa, gói đường tảng, lon muối mè của các bạn.

Bước chân về hiệu trà Ngữ nhận ra ngay những điều bất thường. Việc buôn bán trà đã dẹp từ lâu mà Ngữ không biết. Ông Thanh Tuyến mặc cái áo sơ mi cũ bỏ ngoài quần ngồi bó gối buồn hiu trước vài gói trà làm mẫu, thêm tấm bảng bằng cỡ cuốn vở học trò nguệch ngoạc mấy dòng rao “Ở ĐÂY NHẬN ƯỚP VÀ RANG THUÊ CÀ PHÊ”. Gói trà vuông vức có in tên hiệu trà dưới Chợ lớn trông rất bắt mắt, sau này Ngữ mới biết để đề phòng Công an tịch thu, bà Thanh Tuyến không cho trà vào ba gói quảng cáo chiêu hàng, mà độn đầy toàn giấy báo xé nhỏ. Còn tấm bảng rao xay thuê cà phê chỉ là một cách ngụy trang. Nếu lỡ ông Thanh Tuyến bị bắt quả tang giao gói cà phê cho khách hàng, thì với tấm bảng quảng cáo đó, ông có thể nói với Công an rằng ông không buôn bán trái phép, chỉ “lao động vinh quang” bằng nghề rang xay thuê cà phê hột khách hàng đem tới mà thôi.

Khung cảnh bên trong nhà bề bộn luộm thuộm hơn trước nhiều. Các tủ hàng ngăn kệ bày trà, cà phê đã dẹp hết, căn phòng trước trống trơn, hộp giấy cũ, báo cũ rải rác đây đó không ai buồn dọn dẹp. Quỳnh Trang mới bị tịch thu và phạt vạ ba mươi ký cà phê nàng nhờ tài xế xe be giấu vào những súc gỗ chở từ Bảo lộc về xưởng cưa, vốn liếng mất hết nên nằm ủ rũ không thiết ăn uống gì. Thằng Bình ăn mặc dơ dáy, khỏi bị ai canh chừng mặc sức chạy nhông ngoài phố, học được khá nhiều những câu chửi thề của dân Ngã Bảy.

Xuống Thị nghè thăm mẹ và các em, Ngữ càng buồn hơn.

Vợ chồng Quế đã dọn ra ở riêng nên khi Ngữ xuống, trong nhà chỉ có Lãng. Ngữ ngơ ngác không nhận ra được thằng em trai sau hơn ba năm xa cách. Lãng ốm gầy như người nghiện hút, tóc cắt ngắn lởm chởm như bị ai lấy kéo xén một cách cẩu thả, hai cánh tay đen ốm và đầy ghẻ. Lãng mở cửa cho anh mà bàn tay kia cứ gãi loạn lên hông trái. Ngữ hỏi:

– Má đâu? Em bị bệnh hồi nào mà ốm o vậy?

Đến lúc đó Ngữ mới thấy lại đúng thằng em hồi trước. Lãng cười phô cả hai hàm răng đã rụng mất hai cái răng cửa, nói lớn:

– Bệnh thời đại mà anh. Bác Hồ ở tù cũng nhờ gãi ghẻ mà thành người “đời đời bất diệt” đấy. Anh đi qua cầu Thị nghè không thấy má à?

– Má vẫn bán xăng sao?

– Không bán xăng lấy gì sống! Một tháng em về đây bị đau lên đau xuống sặt sừ, không làm gì giúp cho má được. Em kiếm tiền được thì dứt khoát không để cho má khổ nữa. Chừng nửa tháng nữa thôi. Tụi ghẻ bắt đầu chịu thua thuốc rồi. Anh thấy không? Hai cánh tay em hồi mới về ghẻ chi chít liền không thấy da. Nay nhiều chỗ đã bắt đầu đóng vảy.

Ngữ dắt xe vào trong cửa, Lãng khóa cổng lại rồi nhắc anh:

– Sao anh không khóa xe đạp lại?

Ngữ ngạc nhiên hỏi:

– Lãng đã khóa cổng rồi, cần gì khóa xe?

– Không được đâu anh ơi! Khóa lại đi cho yên tâm. Mấy ổng nói “ra ngõ là gặp anh hùng”. Dóc tổ! Phải sửa lại là bây giờ “ra ngõ là gặp trộm cắp”.

Ngữ thấy em lo thái quá, nhưng cũng khóa xe cẩn thận đúng như lời Quỳnh Trang đã dặn dò. Thấy em cứ tiếp tục gãi, Ngữ hỏi:

– Em đi học ở đâu nước độc hay sao mà ghẻ lắm thế?

– Anh hỏi gì?

– Anh hỏi em đi học ở đâu?

Lãng ngớ ra, không hiểu anh nói gì.

Ngữ giải thích:

– Chị Trang nói với anh là em được cử đi học trường cải tạo công nông nghiệp Duyên hải.

Lãng chợt hiểu, cười rũ một lúc, cười đến chảy nước mắt. Lãng cố nhịn cười, bảo anh:

– Anh học tập như thế mà tụi nó tha tào cho anh về thì cũng lạ. Trường cải tạo công nông nghiệp! Anh có biết cái trường quỷ quái đó thực ra là cái gì không? Đó là trại khổ sai. Tụi nó ruồng bắt dân ma túy, trộm cắp bụi đời, cả dân chợ trời như em nữa cũng bắt tuốt, đầy cả lũ xuống Rừng Sát bỏ đói khát cho muỗi cắn chết thôi. Chết đứa nào tụi nó mừng đứa nấy. Chết thì khiêng xác vùi xuống sình là xong, gia đình có hỏi thì bảo chết rồi, khỏe re. Em còn giữ được bộ xương với cái bao da ghẻ này về là phước đức lắm.

Ngữ nhìn Lãng vừa hăng hái nói vừa quơ tay, công nhận thằng em út sáng mắt hơn mình nhiều. Ngữ vẫn còn quá tin vào các chữ nghĩa nghiêm trang hoa hòe. Lãng không đọc sách, không mê chữ, nên cái nhìn của Lãng nhìn thẳng vào sự thực. Lãng đã nguôi giận, hỏi anh:

– Em nghe chị Trang nói chị đã mua đất cho anh ở Bảo chánh rồi phải không?

– Phải. Anh về nghỉ ít lâu rồi xuống dưới đó. Chị Trang nói vườn chuối tốt lắm. Họ trồng chuối thưa, nên giữa hai hàng chuối có thể trỉa bắp được. Anh làm rẫy trỉa bắp thạo lắm.

Lãng nói:

– Anh xuống dưới đó tìm cách rủ mấy thằng Xã đội đi nhậu vài bữa. Tụi nó dân Nam ưa nhậu lắm. Làm thân với tụi nó rồi anh xin cho được cái giấy phép về Sài gòn thăm nhà hàng tuần. Nắm được cái giấy phép rồi, anh nhờ thằng Công an xã coi giùm vườn chuối, hoa lợi nó muốn làm gì thì làm, coi như cúng cô hồn cho tụi nó để về trên này mà sống. Em lăn lộn ngoài chợ trời hai năm, vô tù học thêm được kinh nghiệm mấy thằng bụi đời khác, em thạo “tụi nó” hơn anh. Anh đừng tính chuyện trồng bắp gây vườn chi cho mất công.

Ngữ nhăn mặt nói:

– Mày thích sống bạt mạng ngoài chợ trời nên nghĩ vậy. Sống như mày thì trước sau cũng vô tù trở lại.

Lãng không giận, chỉ mỉm cười gật gù nói với anh:

– Để rồi anh coi. Không lâu đâu! Vài tháng sau anh sẽ thấy em có lý hay anh có lý.

***

Ngữ thay em xách cơm ra cầu Thị nghè cho mẹ. Lãng bảo anh ăn cơm với mình rồi hãy mang cơm ra cho bà Văn, nhưng Ngữ chợt nảy ra ý ra cầu ngồi ăn chung bữa cơm đoàn tụ với mẹ, nói ý định ấy với em. Lãng nói:

– Thôi cũng được. Để em sớt thêm đồ ăn cho đủ.

Ngữ quan sát cách em nấu nướng và bới thức ăn ra mấy cái ngăn ga mên, cảm động nhận ra những thay đổi của em. Lãng chăm chút cẩn thận cho từng món ăn của mẹ. Chính tay Lãng ra chợ Thị nghè tìm mua cá bống về kho tiêu, món ăn Ngữ biết mẹ rất thích. Rau muống luộc vừa chín tới y như cách bà Văn thường dạy Nam và Quế cách luộc rau, kèm theo một chén nước mắm dầm nửa cái trứng vịt và pha thêm chút ớt bột. Lãng múc các thức ăn cho vào ba cái ngăn gà mên nhôm, ngăn dưới cũng đựng cơm đủ ăn cho hai người. Sau khi đặt ga mên vào cái giỏ nhựa, Lãng lấy tờ giấy sạch gói hai cái chén, hai cái muỗng và hai đôi đũa, tất cả được buộc kỹ bằng một sơi dây thun rồi cũng cho vào giỏ xách.

Ngữ khen:

– Em cẩn thận như một bà nội trợ. Em khác trước nhiều lắm.

Lãng chớp chớp mắt để giấu sung sướng đáp:

– Chị Quế đi rồi, em phải lo chứ. Má dạy mãi em mới làm được mấy món này đấy. Nhất là kho cá bống. Kho không khéo con cá cứ bã ra, nát vụn, không ngọt và cứng như thế này. Hôm nào anh định xuống Bảo chánh?

– Chắc độ một tuần nữa.

– Nếu cần em sẽ đi xuống đó với anh. Anh không quen môi miếng với “tụi nó” đâu.

Ngữ ầm ừ cho qua, xách giỏ cơm đạp xe ra cầu Thị nghè. Bà Văn thấy một người đàn ông đạp xe đạp đèo thêm một cái giỏ ghi đông rề xe ghé lại lề đường, vội chạy tới hỏi:

– Bán xăng phải không cậu? Xăng còn nguyên chất không?

Ngữ thấy mẹ đen điu hốc hác, rưng rưng xót thương không nói được lời nào. Bà Văn vẫn chưa nhận ra con, nói thêm:

– Tôi mua giá cao hơn những chỗ khác, xăng tốt mười lăm đồng một lít. Cậu không tin…

Vừa nói tới đó, bà Văn nhận được mặt con. Bà há hốc miệng mở lớn mắt để nhìn cho rõ, rồi lẩm bẩm:

– Con đó hở Ngữ? Phải Ngữ không con? Con được về hồi nào?

Bà Văn bật khóc. Ngữ lúng túng dựng xe đạp vào lề đường, tay run, lật bật mãi mới ghếch được pê đan vào lề xi măng để chạy tới ôm mẹ. Hai mẹ con ôm nhau khóc giữa trưa nắng.

Bà Văn thút thít nói:

– Con cũng còn khá, không đến nỗi thân tàn ma dại như thằng Lãng. Năm ngoái má muốn theo con Trang lên thăm con, sau nghe nói họ cho ở đêm, nên má thôi. Kỳ vừa rồi má lại bị đau.

Ngữ vội hỏi:

– Má có bị đau yếu gì không? Má ốm hơn trước nhiều.

– Má có đau yếu gì đâu, lâu lâu chỉ bị cảm nắng. Với lại chỗ dốc cầu này xe cộ đi lại nhiều, bụi bặm quá. Con đừng lo, má quen rồi.

Vừa lúc đó một chiếc Molotova bộ đội sơn màu rêu úa vừa qua khỏi cầu Thị nghè chạy chậm lại, sát vào lề đường rồi dừng lại ở chỗ bà Văn bày hai chai xăng độ ba mươi thước. Bà Văn mừng rỡ nói với con:

– Con xách giỏ cơm vào đi. Để má lại mua xăng bộ đội.

Ngữ nhìn mẹ một tay giữ lấy cái đãy tiền giắt ở lưng quần lãnh, một tay nắm vạt áo trước le te chạy về phía chiếc xe bộ đội. Chiếc Molotova không tắt máy. Một chú bộ đội nhảy xuống xe tới thì thầm với bà Văn. Bà Văn gật đầu, lôi cái đãy vải ra vội vã đếm tiền, vội vã dúi tiền vào tay bộ đội, lóng ngóng chờ đón can xăng chuyển từ xe xuống. Chiếc xe nhà binh rồ máy chạy về hướng Sài gòn. Bà Văn dáo dác nhìn quanh, rồi cúi xuống ôm cái can xăng chạy về chỗ Ngữ. Ngữ thấy cảnh mẹ rán sức tha can xăng nặng vội vã tìm chỗ giấu vì sợ Công an tuần cảnh, không chịu đựng nổi nữa, vội chạy nhanh tới giúp mẹ nhấc bổng can xăng lên tay. Bà Văn vẫn nhìn xuôi nhìn ngược, miệng giục con:

– Con đem giấu sau cái tường đổ kia cho má. Nhanh lên. Giờ này tụi Công an hay đi rình bắt xăng lậu lắm. Tụi nó kiếm tiền đi ăn trưa.

Ngữ ôm can xăng chạy trước, bà Văn bén gót theo sau chỉ đường. Giấu kín can xăng vừa mua được dưới đống rác hôi hám xong, bà Văn yên lòng, bà cười thật tươi, khoe với con:

– Má mua rẻ được tới ba mươi đồng. Mấy thằng bộ đội bán xăng lậu không dám đứng lâu kỳ kèo, trả rẻ tụi nó cũng bán.

Ngữ nói:

– Con đem cơm ra để con ăn với má luôn.

Bà Văn cười vui, nhưng vẫn trách:

– Sao con không ăn ở nhà với thằng Lãng. Ra chi đây cho nắng nôi, bụi bặm.

Hai mẹ con bày đồ ăn ra chiếc chiếu rách bà Văn vẫn ngồi để chờ bán xăng, từ chỗ trải chiếu tới chỗ đặt hai chiếc chai đựng nước trà giả xăng cách nhau cả hai mươi thước. Bà Văn giải thích cho con hiểu:

– Ban đầu má thiệt thà, bày nguyên cả hai chai xăng trên lề đường. Sau tụi Công an cứ xách xe đi tịch thu hoài, má mới nghĩ tới nước trà. Tụi nó xách nhằm nước trà về, tức lắm, má kể cho thằng Lãng nghe, nó cười quá.

Ngữ nói:

– Má! Tụi con sẽ rán kiếm tiền để má ở nhà khỏi đi bán xăng nữa. Thấy má khổ, con xốn xang. Con đã nói chuyện với thằng Lãng…

Bà Văn gạt đi:

– Khổ gì! Má có sức má mới làm. Con đừng lo cho má. Con xới cơm ra đi. Thằng Lãng đã biết kho cá bống rồi đấy.

Hai mẹ con ăn “bữa tiệc đoàn tụ” bên lề đường, giữa trưa nắng bụi bặm. Thấy mẹ nhóp nhép trệu trạo nhai miếng cơm, bụi đen pha với mồ hôi đóng vào các nếp nhăn trên trán trên má, mái tóc thưa và bạc phất phơ theo gió, Ngữ nghẹn không nuốt nổi miếng cơm trong miệng.

***

Biết gia đình ông bà Bỗng đã dọn nhà qua xóm Chùa, nên sau khi từ biệt mẹ, tiện đường Ngữ rẽ lên Đa kao. Ngữ hy vọng vu vơ là biết đâu chính Diễm ra mở khóa cổng để dẫn chàng vào căn nhà đầy kỷ niệm ấy. Ngữ dự định nếu gặp Diễm, câu đầu tiên chàng sẽ xin lỗi Diễm, giải thích vì sao buổi chiều cuối cùng trước hôm đi trình diện học tập chàng đã tới trễ. Chắc chắn Diễm sẽ cười xòa bó qua. Chuyện cũ đã ba năm, giận dỗi cho mấy rồi cũng theo thời gian mà nhạt phai, huống hồ chính Diễm đã tự động gửi quà Tết cho chàng.

Cổng trước không khóa. Căn nhà núp dưới bóng cây hình như cũng chưa sửa sang gì như Diễm nói. Cửa trước cũng mở rộng. Từ bên trong, có tiếng hai người đàn ông đang nói chuyện, cả hai đều giọng Huế.

Ngữ nhận ra tiếng Ngô, lòng rộn rã mừng, tuy cũng hơi thất vọng vì không nghe giọng nói nhẹ và mơn trớn của Diễm.

Ngữ dựng xe vào gốc mít, gõ nhẹ vào tấm cửa gỗ ra hiệu rồi bước vào nhà. Ngô đang ngồi trên cái bàn gỗ thấp kê sát vào tường, trên bàn la liệt những đôi guốc gỗ chưa sơn. Ngồi đối diện với Ngô là một thanh niên trẻ tóc để hơi dài mặc quần áo bộ đội.

Ngô nhận ra Ngữ, reo lên:

– Người tù đã trở về rồi! Mày được tha hôm nào?

Thấy Ngữ e ngại nhìn người bộ đội lạ, Ngô hỏi:

– Mày không nhận ra Mười Chí à? Tao quên mất, mày đâu biết ai là Mười Chí với Mười Hướng. Tần đây! Tần hồi trước học Mỹ thuật Huế, nhớ không?

Ngữ nhớ ngay cậu họa sĩ trẻ một thời sống lang bạt và sau này nhảy núi đột ngột không ai hay. Tần đứng dậy bắt tay Ngữ, nói:

– Mừng anh được “tạm tha”.

Ngữ cười, đáp:

– Vậy là Tần thông thuộc số phận tụi này quá rồi. Đúng là giấy phóng thích chỉ đề là “tạm tha”. Lớ xớ bị tóm trở lại thì khỏi tha nữa.

Ngô nói:

– Mày biết như vậy là tốt. Gắng ngoan ngoãn đi con. Mày có vết rồi đấy, viết lách lung tung đã thành án, phải coi chừng.

Ngữ biết bạn nói đùa vì đã biết Ngô bỏ nhiệm sở về Sài gòn sống bất hợp pháp, quay sang hỏi Tần:

– Tần về đây có làm việc ở Mỹ thuật không?

Ngô đáp thay cho Mười Chí:

– Nó nắm quyền sinh sát mày đấy, mày biết không? Sách mày bị cấm là do nó đấy.

Tần cãi:

– Ngô cứ nói bậy anh Ngữ tưởng thật, oan cho tôi. Tôi sắp thôi việc ở chỗ đó rồi. Đang xuống đây làm học trò anh Ngô, vẽ guốc kiếm sống coi bộ khỏe hơn.

Ngô cười, từ đó ba người đều tránh không muốn nhắc tới những chuyện đau đầu. Đề tài chính là cái nghề đang thịnh hành thời bấy giờ: nghề dùng bút lửa vẽ guốc. Ngô hăng say nói với Ngữ:

– Nếu mày hết đường “binh”, vá xe đạp trên lề đường bị Công an đuổi, ra chợ trời buôn nước bọt lưỡi không dẻo bị lừa, đạp cyclo không đủ sức, bán cà phê dỏm bị ế hàng bạn bè văn nghệ hay lại uống chịu rồi quên trả tiền, “chà đồ nhôm” bị cụt vốn hết còn thứ gì để gỡ đem ra chợ trời… đến lúc đó thì mày qua đây tao truyền nghề cho. Như Trương Vô Kỵ xông pha cho lắm cuối cùng cũng về vẽ lông mày cho Triệu Minh, mày cũng nên kết thúc cuộc đời bằng nghề vẽ guốc. Không không. Không cần có hoa tay đâu. Chỉ cần thuộc một số mẫu vẽ là được. Ai đặt làm guốc đặc biệt, tao với thằng Tần sẽ vẽ mẫu cho mày, mày lấy bút lửa đồ lại là được.

Tao cho rằng nghề vẽ guốc là sự kết hợp kỳ diệu của nghệ thuật và đời sống. Bỏ công vẽ một bức sơn dầu rồi làm gì? Mấy người xem đã hiểu? Mấy người đủ tiền mua? Bọn có tiền mua tranh về treo ở phòng khách, mình có tài hoa tới mấy cũng chỉ là cái giá cho tụi nó chưng sự giàu sang của tụi nó mà thôi. Không ích lợi gì. Không có tính quần chúng. Vẽ guốc là đem nghệ thuật phụng sự thiết thực cho đời sống của đa số quần chúng. Hơn thế nữa, người mang guốc hoa đều là những thiếu nữ trẻ đẹp, ngực nở, mông tròn, má hây hây, xứng đáng để tụi mình đem nghệ thuật lót đường cho họ đi, giữ gìn gót chân son của họ…

Tần cười, can Ngô:

– Thôi, ông ba hoa nhăng nhít chừng đó đủ rồi. Ông chọc giận mấy ông bạn trên hội Mỹ thuật bằng luận điệu đó thì được, chứ ba hoa với anh Ngữ làm chi. Ảnh mới về để cho ảnh nghỉ ngơi.

Ngữ nói:

– Mày làm đài phát thanh nên tao thấy mày ba hoa cũng nhuyễn hơn thời xưa nhiều. Ừ, biết đâu có ngày tao phải theo mày học nghề. Kiếm được khá không?

Tần cười:

– Anh hỏi vậy là tháo ngòi nổ của anh Ngô rồi đó.

Ngô cãi:

– Kiếm được ít vì mình giao thiệp dở, không tìm ra mối. Thiếu gì thằng vẽ xấu òm mà hàng đặt không làm kịp, phải thuê mình vẽ bớt.

Tần đứng dậy nói:

– Thôi, tôi phải về trước. Ít ra cũng phải tỏ ra là mình không xem thường thủ trưởng quá, trước giờ nghỉ làm phải có mặt ở cơ quan. Anh Ngữ ngồi chơi.

Tần về rồi, Ngữ mới nhìn quanh nhà hỏi:

– Hai bác đâu?

Ngô nói:

– Ông bà già ra Nha trang đón con Diễm.

Ngữ giật mình hỏi:

– Diễm bị tù thật à?

Ngô buồn rầu đáp:

– Mày đọc báo biết rồi còn gì. Tao đã can nhưng con Diễm nó ẩu quá. May tìm được chỗ nhờ nên chỉ bị một năm, chứ ban đầu tụi nó tính đưa con Diễm lên chánh phạm để nhẹ tội cho hai thằng thương nghiệp vật tư. Mới mà cũng mau. Nó mãn hạn tù cách đây hai hôm.

Tự nhiên Ngữ thấy ruột xót cồn cào, rồi nước dịch vị ở bao tử cứ trào lên miệng. Ngữ cố nhịn đau không được, nói nhanh với bạn:

– Tao đi cầu một chút.

Ngữ chạy vào nhà cầu súc miệng, một lúc sau cơn đau đã hạ. Nhìn vào gương, Ngữ nhớ những lần vào đây rửa mặt, đang quệt bọt cạo râu lên mặt thì Diễm hiện ra trên gương, hai tay ôm choàng lấy đôi vai Ngữ ngả đầu làm hề. Ngữ vuốt lại tóc, lấy bộ mặt tươi tỉnh bình thường trở ra phòng trước. Ngô nhìn Ngữ đăm đăm, rồi hỏi:

– Mày có xuống nhà này nhiều lần rồi phải không?

Ngữ ngạc nhiên hỏi lại:

– Sao mày hỏi vậy?

– Tao chưa kịp chỉ chỗ nhà cầu mày đã biết đường rồi.

Ngữ thấy mình hớ, đành nói:

– Có. Diễm có dẫn tao tới coi nhà này trước khi tao đi trình diện.

Ngô nhớ lại đôi dép Nhật và cái bàn chải đánh răng đàn ông, nhớ lời Diễm thố lộ hôm cùng ra Nha trang với anh, mắt cứ đăm đăm nhìn bạn, hồ nghi. Ngữ tránh nhìn trở lại, cầm đôi guốc đang vẽ dở hỏi Ngô:

– Vẽ một đôi guốc thế này họ trả bao nhiêu?

– Còn tùy hình vẽ đơn giản hay phức tạp. Loại thường vẽ hàng loạt thì hai đồng một đôi. Loại guốc đặt để cho bà con ở ngoại quốc đôi khi lấy được tới mười đồng.

– Vậy là thu nhập hàng tháng cũng bằng công nhân viên rồi còn gì.

– Nhưng công nhân viên được mua gạo rẻ. Lương bao nhiêu không phải là chính. Cái làm cho mình phải lụy vào Nhà nước là gạo. Trong này còn dễ, ngoài Bắc mất sổ gạo là coi như đi ăn mày. Độ rày dân Sài gòn đã bắt đầu thấm chuyện gạo. Mấy tỉnh lúa gạo quanh đây đặt trạm cấm không cho dân tự do chở gạo lên bán cho Sài gòn nữa, Sài gòn chới với. Tuần trước ba tao nổi hứng làm một chuyện khó tin, sau thấy không xuôi vì nhà ít người quá, nên thôi. Gia đình nào đông con thì làm như vậy được.

– Chuyện gì vậy?

– Chuyện gạo. Các tỉnh cấm chở gạo nhưng đâu có nghĩ tới chuyện cấm dân chở cơm. Giá một ký gạo ở Sài gòn cao gấp ba giá ở Long an. Ba tao đạp xe xuống Long an mua gạo nhờ nấu cơm, rồi chở cơm về Sài gòn. Tụi trạm kiểm soát thấy kỳ cục, nhưng không biết làm sao đành cho đi. Ba tao nói đã có nhiều ông già làm chuyện đó. Già rồi, không biết làm gì đỡ đần cho vợ con, rán đạp mấy chục cây số mua gạo nấu cơm đem về Sài gòn ăn, tiết kiệm mỗi ngày cũng được gần mười đồng bạc. Tao tính gần mười đồng, nếu gia đình trên mười miệng ăn. Nằm ở Sài gòn chắc gì đã kiếm được mười đồng.

Ngữ ngạc nhiên kêu lên:

– Chuyện kỳ cục nhất thế giới. Nhà nước ép dân đến bậc đó thì sống với ai.

Ngô không nói gì, chỉ ngồi thẫn thờ nhìn đôi guốc trước mặt. Ngữ hỏi:

– Bác trai không còn giúp việc cho phường à?

– Lại thêm chuyện đó nữa. Tụi nó đủ người muốn đẩy ông già ra từ lâu, nhưng chưa tìm được cớ. Tao còn ở Hà nội, ông già còn lấy tao ra làm cái mộc che. Tới hồi tao bỏ về, tụi phường nó biết. Tụi nó bắn tiếng là sẽ bắt tao vì sống không hộ khẩu, thuộc thành phần ăn bám xã hội. Tao phải nhờ Năm Được gọi điện thoại dọa tụi phường vài câu, tụi nó mới để tao yên. Cho tới lúc con Diễm bị bắt, thì hết thuốc chữa. May mà trước đó con Diễm đã xin chuyển hết hộ khẩu ông bà già qua bên này.

Ngô ngước nhìn bạn, có vẻ ngập ngừng, rồi nói:

– Mai mày rảnh, xuống đây chơi. Chắc mai con Diễm nó về.

______________________

Tháng Tư 3, 2010

Mùa Biển Động Chương 177

Chương 177

Được gia đình thăm nuôi, tuy đỡ đói khổ hơn trước nhưng những người tù cải tạo quanh Ngữ bị xuống tinh thần thấy rõ. Bị cách biệt với thế giới bên ngoài, họ chỉ có một công việc là rán nín thở qua sông. Một hy vọng là ngày được phóng thích. Gặp thân nhân, họ biết thêm rằng bên ngoài cái nhà tù này vẫn là nhà tù, đôi khi cái nhà tù không có hàng rào kẽm gai ấy còn khắc nghiệt hơn nhà tù đang giam giữ họ. Ngày về đã xa tắp mù khơi, trong khi họ biết chắc ngày mơ ước ấy sẽ có những điều não lòng. Một số tù cải tạo tìm cách vượt thoát, người thoát nạn may mắn không biết trôi về đâu, sống chui sống nhủi qua ngày ở xó xỉnh nào, người bị bắt lại chịu những hằn học cực hình của quản giáo. Những kẻ bằng lòng chịu đựng một cách bình thường cũng bị vạ lây. Sau mỗi lần có người trốn trại, mấy nghìn người tù phải nghe những lời chửi mắng ra rả suốt tuần lễ, việc lao động bị hạn chế, không khí nghi kỵ trong anh em gia tăng.

Đầu năm 1978 ở lán của Ngữ có một người treo cổ tự vận chết chỉ hai ngày sau khi được gia đình thăm nuôi. Cái chết của đại úy Linh thật bất ngờ. Ông thuộc ngành Quân cụ, gia đình khá giả và có được gửi đi Mỹ du học một năm về kỹ thuật bảo trì và sửa chữa chiến xa. Vốn tính ưa hoạt động và quảng giao, ông được cả lán thương mến, và tự nhiên trở thành người đại diện cho cả lán để liên lạc tiếp xúc với Ban Quản giáo. Ông Linh hy vọng mình thuộc vào một binh chủng chuyên môn kỹ thuật, chưa hề phải tự tay bóp cò bắn phát súng nào, nên phải được về sớm. Hy vọng nhiều quá nên chờ càng lâu ông càng xuống tinh thần. Qua năm 1978, ông trầm lặng ít nói hơn. Sau kỳ thăm nuôi đợt đầu năm 1978, bạn bè ngạc nhiên không thấy người vợ trẻ đẹp của ông Linh lên thăm chồng, chỉ thấy bà mẹ già và đứa em gái đi theo xách giỏ quà cho mẹ. Không ai dám hỏi ông Linh về chuyện khác thường. Người ta xì xầm với nhau là vợ ông Linh đã dẫn con đi vượt biên theo một người Tàu ở Chợ lớn. Những tin đồn loại đó nhiều lắm, mỗi khi không thấy vợ lên thăm chồng là tức khắc bạn bè đồn đãi ông bạn xấu số đã bị vợ bỏ rơi, ôm cầm sang thuyền khác. Vì vậy ai cũng bán tín bán nghi. Cả lán lặng lẽ quan sát theo dõi ông Linh. Ngược lại với tin đồn, ông Linh vẫn sinh hoạt ăn ngủ bình thường. Có thể nói ông còn linh hoạt hơn cả trước ngày thăm nuôi nữa. Chỉ sau khi ông tự tử những người nằm gần chỗ ông mới nhớ là ông hay bàn về cái chết, nhất là những vụ tự tử. Ngữ nhớ hôm đó có kể cho đại úy Linh nghe cái chết “nghiêm chỉnh” của viên trung tá Cảnh sát trước Quốc hội. Ông Linh trầm ngâm suy nghĩ, công nhận cái chết đó có hùng khí nhưng vẫn chưa đạt được mức chót vót của nghệ thuật chết. Ông chê cách ngậm nòng súng lấy ngón chân đạp cò của văn hào Mỹ Hemingway là yếu. Ông cũng chê cách đứng lên chồng sách đưa đầu vào thòng lọng rồi đạp ngã chồng sách tự tử của Tam Ích là quá sách vở. Chết là hết, còn bày trò nhắn nhủ gửi gắm sứ điệp cho hậu thế làm chi! Ông bảo cả Hemingway lẫn Tam Ích còn yếu đuối sợ sệt, phải tự đặt mình trước sự đã rồi. Cả sinh mệnh của họ phải gửi gắm vào một cái tích tắc, vì chính họ không dám tự tin. Họ có thể đổi ý sau cái tích tắc định mệnh ấy. Đạp vào cò súng hay đu người đẩy ngã chồng sách, ông Linh nói chỉ cần tí xíu can đảm trong cái tích tắc. Ai nghe cũng cho ông Linh chờ hoài không được thả đâm ra lẩm cẩm.

Ông chết rồi mọi người mới biết ông đang lựa chọn một cách chết đạt mức cao của nghệ thuật chết. Ông vẫn chọn cách thắt cổ như Tam Ích. Ông lén xé quần đùi bện thành dây thòng lọng. Mái lán thấp, mặt sau giáp liền với một khóm cây dại khá cao nên cũng kín đáo. Ông Linh phải tự tử ở ngoài lán nên cột dây thòng lọng vào kèo nứa, thì nút thòng lọng chỉ thấp tới ngực là cùng. Thế mà ông vẫn tự tử được. Muốn chết, ông phải dùng sức mạnh của ý chí để co hai chân lên. Và sức mạnh ấy ở chỗ ranh giới sống chết, phải được vận dụng tối đa để thắng được phản xạ tự nhiên của bản năng sinh tồn.

Sau khi chôn cất xác ông Linh, cả trại nặng trĩu như nhà mồ. Không khí chung thê lương u ám, tuy bầu trời quang đãng, nắng vàng reo vui trên những khóm lá nõn. Ban giám thị tập trung cả trại lên lớp cả buổi, y như những lần có người trốn trại. Viên trung tá giám đốc kết tội ông Linh “hèn nhát tìm cái chết để trốn học tập cải tạo”. Nghe đến đó, bất giác cả trại cười ồ. Rừng đêm dội tiếng cười ra xa, khung cảnh vừa bi tráng vừa khôi hài.

***

Cùng lúc đó, Ban Quản giáo chính thức cho tù cải tạo biết rằng những người “học tập tốt, lao động tốt” chỉ được tha về khi nào gia đình đã tìm được chỗ thích hợp để tù cải tạo về đó lao động sản xuất, không ở thành phố “ăn bám gia đình, làm rối loạn trị an”. Người nào được chính quyền địa phương nhận cho về lao động sản xuất trước thì được “ưu tiên khoan hồng” cho về trước. Ai nấy lo viết thư về cho thân nhân. Ngữ viết thư cho vợ, bảo làm sao tìm cho mình một khu rẫy ở vùng Xuân lộc hay Long khánh và xin chứng nhận hứa cho cư trú của Ủy ban Nhân dân địa phương gửi lên ngay.

Trong lúc đó Ngữ thử đánh liều một ván bài chót. Truyện ngắn “Vòng hoa dành cho ngài lãnh tụ” Quỳnh Trang mang lên, Ngữ giữ suốt hai tháng không muốn đem nộp cho cán bộ quản giáo. Đọc lại cái truyện một thời chàng rất thích, mà bạn bè cũng xôn xao bàn tán, Ngữ thấy rõ những khuyết điểm của mình về kỹ thuật, những non nớt của mình về nội dung. Ngữ thấy hồi đó mình hết sức ngây thơ, cứ nghĩ rằng tệ đoan tham nhũng là trở lực duy nhất trong một xã hội lành mạnh, nhân ái. Gần một tháng sống dưới chế độ mới trước khi trình diện học tập cải tạo, Ngữ khám phá ra rằng những tệ đoan ấy có cơ trầm trọng hơn cả dưới chế độ cũ. Ngữ rút ra kết luận có lẽ hợp lý hơn: Tham nhũng là phó sản của quyền lực. Hễ quyền lực càng không bị hạn chế và kiểm soát chặt chẽ bao nhiêu thì tham nhũng càng bành trướng bấy nhiêu. Mà quyền lực dưới chế độ mới lại được phân phát một cách bừa bãi, như một cách thưởng công thay thế cho những phần thưởng vật chất cụ thể Nhà nước không có được. Ngườí nào cũng có ảo tưởng Đảng và Nhà nước giao cho một trách nhiệm thiêng liêng và có quyền sinh sát đối với kẻ khác. Họ nhai bo bo rưới nước tương nhưng thỏa mãn vì được ra oai, được khiếp sợ, được ghé vai đẩy bánh xe tiến hóa của nhân loại, được làm lịch sử!

Nhưng không có cái dại nào giống cái dại nào. Trong một phút thiếu suy nghĩ, Ngữ đem cái truyện ngắn ra khoe với cán bộ quản giáo. Tay cán bộ đem nộp lên cấp trên. Ngay hôm sau Ngữ bị gọi lên “làm việc”.

Viên thiếu tá chính ủy tiếp Ngữ một cách nhã nhặn, lẽ phép một cách khác thường. Ông đích thân pha trà mời Ngữ uống, rút bao thuốc lá Tam Đảo ra mời Ngữ hút. Trên bàn đã đặt xấp hồ sơ dày cộm của Ngữ từ trạí Long giao chuyển giao từ lâu lên trại mới. Viên chính ủy tỏ ra thông thạo về văn chương, đọc sách nhiều, nhất là loại sách lý luận văn học. Ông cũng nắm được những nét chính của sinh hoạt văn chương Miền Nam, dĩ nhiên là với những suy diễn rất đúng bài bản. Ề à nói chuyện phiếm cả giờ đồng hồ viên thiếu tá mới đề cập tới truyện ngắn “Vòng hoa dành cho ngài lãnh tụ”. Ông hỏi Ngữ viết truyện ngắn ấy lúc nào, và hồi đó đang làm gì, nghe tới đâu ghi chép tới đó. Ngữ kể sơ lược hoàn cảnh sáng tác của mình, nhưng cố ý nói rõ thêm những hậu quả mình hứng chịu sau khi truyện ngắn ấy được phổ biến ra, nhất là bản báo cáo mật của An ninh Quân đội.

Viên thiếu tá lắng nghe Ngữ trình bày, cuối cùng nói:

– Theo lẽ thông thường, ngoài Bắc chúng tôi không bao giờ một người lính được phép viết như thế này. Chỉ mới nghĩ rồi nói ra lời đã là một cái tội, đừng nói tới chuyện viết thành truyện rồi in ra phổ biến linh tinh. Người viết phải bị biện pháp kỷ luật, cơ quan nào in ra cũng phải chịu liên lụy. Văn nghệ là lưỡi gươm bén của Cách mạng, không thể đùa được. Đế quốc Mỹ sừng sỏ với một guồng máy kềm kẹp tinh vi cũng không phải là loại ấm ớ, để cho lính ngụy các anh muốn làm gì thì làm. Làm cái gì chúng nó cũng quy hoạch trước, phương án thực hiện năm năm, mười năm. Anh viết như vậy mà chúng nó để yên thì lạ quá. Không tin được!

Ngữ trả lời rằng người lính quân đội cũ chỉ có phận sự đối với các công việc thuộc về quân sự, viết lách là quyền tự do riêng của cá nhân. An ninh Quân đội có thể nghi ngờ Ngữ, đặc biệt theo dõi, nhưng họ không có quyền vịn vào truyện ngắn ấy để áp dụng biện pháp kỷ luật với Ngữ. Nhiều nhà văn nhà báo Miền Nam tuy ở trong quân đội nhưng vẫn được viết tự do theo ý mình.

Viên thiếu tá lắc đầu không tin. Ông nói:

– Hoặc chúng nó có âm mưu mà anh không biết. Hoặc anh biết nhưng chưa thành thật khai báo. Thôi anh về nghĩ lại đi, lúc nào cần thì cho tôi biết để chúng ta hợp tác nhau làm việc. Tôi ghi chép những gì anh nói được hai trang giấy đây, nhưng chắc chắn là không đầy đủ. Tôi đã liên hệ với đồng chí Sáng cho anh được nghỉ lao động hai ngày để anh viết lại những gì anh đã nói với tôi, và những gì anh chưa kịp nói. Chúc anh học tập tốt để chóng về với chị Quỳnh Trang. Cái tên hay nhỉ! Tôi cũng có một cháu gái tên lót chữ Quỳnh. Quỳnh Lưu. Quê vợ tôi đấy.

_____________________________

Mùa Biển Động Chương 176

Chương 176


Sợ bị trễ như lần trước nên lần thăm nuôi này Quỳnh Trang đi thăm chồng từ buổi sáng, mặc dù giờ qui định cho Ngữ vẫn buổi chiều. Nàng bỏ tiền mua vé chợ đen đi Phan thiết trên tàu Thống Nhất, nhưng sẽ xuống Gia rai, và vì biết các chuyến tàu xuyên Việt chỉ dừng lại các ga xép tối đa năm phút, Quỳnh Trang nai nịt gọn gàng, định bụng tìm một chỗ gần sát cửa ra vào để xuống cho nhanh.

Quỳnh Trang mừng khấp khởi cả đêm không ngủ được. Gần ba năm, đây là lần đầu tiên nàng được gặp mặt Ngữ. Đã thế giấy phép cho thăm nuôi còn ghi rõ là trường hợp vợ thăm chồng đang học tập có thể xin ở lại đêm với chồng, Ban Quản giáo sẽ sắp xếp chỗ để hai vợ chồng ngủ qua đêm. Bà Văn đòi đi thăm con, nhưng khi nàng dâu đỏ mặt lí nhí cho mẹ chồng biết điều đặc biệt này, bà đã tế nhị tìm cớ ở nhà. Quỳnh Trang cũng không dẫn con theo, vì lần trước về thằng Bình bị cảm hàn suốt hai tuần lễ.

Chuyến tàu lửa Thống Nhất khởi hành lúc tám giờ sáng. Quỳnh Trang thức dậy năm giờ để ra ga Bình triệu. Người chờ xe lửa chạy từ Chí hòa ra đông như kiến, nhất là người Bắc, bộ đội đã đông, mà dân thường cũng không ít. Ba năm Nam Bắc cùng sống chung dưới một chế độ vẫn chưa xóa được ranh giới hai miền qua cách ăn mặc của người dân. Dân miền Nam tuy ăn mặc cẩu thả nhếch nhác hơn trước nhiều, nhưng chưa có ai mặc áo rách. Dân Bắc mặc quần áo vá, người nào cũng ôm trên tay cái mũ cối vải lợp đã cũ và mòn rách ở ngù mũ, mép mũ. Gương mặt thiếu ăn xanh xao, mắt đục, dáng đi đứng uể oải bất cần. Nhiều người chờ xe đã nhiều ngày, ăn ngủ tại ga để chen lấn mua cho được cái vé với giá chính thức, nhiều ngày đêm thiếu tắm giặt nên quần áo nhàu nát, hôi hám. Quỳnh Trang ôm chặt lấy hai cái xắc vải vì sợ ăn cắp, ngồi chờ ở sát đường rầy. Bên cạnh nàng là một nhóm bộ đội trẻ cũng chờ xe về phép thăm gia đình. Quỳnh Trang không muốn bắt chuyện với họ, phần lo bị ăn cắp, phần lóng ngóng nhìn về phía cây cầu sắt chờ bóng cái đầu máy xe lửa xuất hiện. Quỳnh Trang nghe lỏm câu chuyện của đám bộ đội, thấy họ ăn nói ôn tồn, nội dung câu chuyện chứng tỏ họ là những thanh niên có học. Một người đọc bốn câu thơ của Xuân Quỳnh thích hợp với cảnh đi tàu:

Mùa thu nay sao bão mưa nhiều
Những cửa sổ con tàu chẳng đóng
Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm
Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh.

Rồi cả đám sôi nổi bàn về thi ca, nhắc đến tên một số nhà thơ Quỳnh Trang không biết. Một cậu bộ đội ngồi trên bao gạo nhỏ, chân gác lên ba lô nói:

– …Nhưng tớ vẫn thích thơ Xuân Quỳnh hơn. Làm thơ tình phải như thế. Yêu thì phải yêu cho đến nơi đến chốn, yêu chết thôi, đừng quen cái lối yêu nửa nạc nửa mỡ, yêu say đắm ở đoạn đầu rồi về sau giật mình vội viết thêm đoạn cuối theo cái kiểu “tuy yêu nhau nhưng không quên nhiệm vụ. Rõ chán lối yêu ấm ớ!”

***

Đột nhiên cả rừng người đang chờ xe chợt lao xao. Đường rầy rung động, đầu máy xe lửa đã qua khỏi cây cầu sắt, từ từ chạy vào khu vực Bình triệu. Đám bộ đội ngưng ngang câu chuyện văn chương, và như một phép lạ, họ hoàn toàn đổi khác. Đoàn toa xe vừa dừng lại thì nhóm bộ đội đã mang vác hành lý chạy tới sát cửa sổ toa gần nhất. Ai cũng như những con hổ dữ. Bất kể trong toa đã có nhiều hành khách ngồi sẵn, họ vứt ba lô, bao gạo, niềng xe đạp, đồ gia dụng bằng sắt qua cửa sổ, ai không tránh kịp lỗ đầu rán chịu. Đã quen chen lấn một người bộ đội ngồi xuống để bạn đứng lên vai, và nhanh nhẹn như một lính xung kích xung phong vào đồn địch, người kia vừa nâng cao lên ngang tầm cửa sổ đã phóng cả thân thể vào toa. Trong chớp mắt, toán bộ đội đã gạt những người lên trước chiếm cả khoảng cửa sổ. Quỳnh Trang chới với ôm chặt cái xách chạy tới chỗ cửa toa. Ông già bà cả trẻ con bị những thanh niên mạnh khỏe xô té sấp xuống đất để giành đường, trẻ con lạc mẹ khóc inh ỏi. Quỳnh Trang lấn vào được tới chỗ cầu thang bước lên cửa toa thì lại bị lấn ngược về phía sau, sau đó người phía sau lại xô nàng lên phía trước, cứ như thế dù không đủ chỗ bước tới nàng vẫn bị đám đông sau lưng dần dần đẩy lên cầu thang, đẩy vào cửa toa. Bên trong toa, người và đồ đạc ngập đến tận trần. Mấy chú bộ đội quen chiến đấu lại mạnh khỏe, đã tìm được chỗ treo võng. Quỳnh Tranh bị chèn cứng ở ngoài cửa toa, cứ đứng ngả nghiêng như vậy từ ga Bình triệu lên tới ga Gia rai, và mỗi lần chuyến tàu Thống Nhất dừng ở ga nào là nàng nhận thêm một tai họa mới.

***

Tù cải tạo đã cắt tranh cắt nứa tự tay lập khu “hợp cẩn” cho những cặp vợ chồng Ngâu như vợ chồng Ngữ. Mỗi cặp được phép sống bên nhau trong một “căn phòng” kín đáo vừa phải, mỗi phòng rộng chừng ba thước, dài bốn thước, vách lá, sườn nứa, lợp tranh, cao đến quá tầm mắt, cánh cửa độc nhất cũng là tấm nứa đan. Toán làm nhà còn có nhã ý cưa nứa thành những cái bình hoa, mỗi phòng tuy chỉ có một cái sạp nứa gồ ghề làm giường nhưng đều có một bó hoa dại làm quà mừng cho cuộc trùng phùng.

Quỳnh Trang soạn đồ đạc trong hai cái xắc vải ra, và một lần nữa Ngữ trố mắt thán phục tính cẩn thận của vợ. Nàng soạn ra cái khăn lông rộng để trải lên liếp nứa, rồi đưa cho Ngữ hai cái gối cao su bảo chồng thổi hơi vào, trước khi đưa thêm hai cái áo gối để Ngữ bao lấy cái gối hơi. Ngữ miễn cưỡng làm thật nhanh những điều vợ sai để đến ôm Quỳnh Trang vào lòng. Bên kia hai tấm vách tranh có tiếng cười khúc khích của hai cặp vợ chồng khác. Quỳnh Trang cầm hai bàn tay chồng ngăn lại không cho sờ soạng lên ngực mình, thấp giọng trách:

– Anh xấu lắm, từ từ để em soạn đồ đạc ra đã. Gớm, đi xe lửa bây giờ giống như là đi ra trận. Người em hôi hám lắm phải không?

Ngữ được dịp áp mũi lên đầu tóc, lên cổ, lên vai vợ, cười đáp:

– Không đâu. Toàn mùi mồ hôi trầm.

Quỳnh Trang cười quay lại. Hai hạt nút áo trên sơ mi nâu bị Ngữ cởi ra từ lúc nào, để lộ một bên vú trắng màu sữa. Ngữ định cúi xuống hôn lên ngực vợ nhưng bị Quỳnh Trang đẩy ra. Vừa gài nút áo lại, Quỳnh Trang vừa nghiêm giọng bảo:

– Anh tìm được đồ nấu nước sôi không? Em cần một ít nước sôi để nấu mì và pha cà phê. Làm gì mà mặt nhăn như bị vậy? Ngoan lên nào. Anh tìm mượn cho em cái rề sô càng tốt. Em đã tính mang cái rề sô nhỏ đi theo, cái rề sô Mỹ bằng nắm tay anh đem về dạo nọ. Nhưng em nghĩ trên này thiếu gì củi.

Ngữ miễn cưỡng hỏi:

– Có cần nấu nướng gì không? Ăn qua loa thứ gì cũng được, bày vẽ làm gì? Để thì giờ nói chuyện thú hơn.

Quỳnh Trang cười, âu yếm hỏi:

– Chỉ nói chuyện thôi phải không? Đừng anh. Em nói cái gì anh cũng cố ý hiểu chệch đi cả. Nếu họ không cho em ở lại đêm thì sao?

Ngữ cười:

– Thì đành chịu nhịn chứ làm sao nữa.

Bên kia có tiếng cười khúc khích. Rồi một giọng đàn ông nói với qua:

– Cứ tự nhiên đi ông bạn! Tụi mình đều như nhau, bị các bà hành quá trời.

Quỳnh Trang ngượng quá, trong khi Ngữ cũng ngượng nhưng cố nói bạo để trấn áp:

– Các anh chị cứ thế mà làm nhé. Coi như chúng ta không nghe gì hết.

Lại nhiều tiếng đàn ông cũng cười lớn, chen lẫn với nhiều tiếng suỵt ngượng nghịu của các bà vợ. Quỳnh Trang thì thào với Ngữ:

– Anh đừng nói thế, nghe kỳ lắm. Đi tìm mượn rề sô cho em đi.

Ngữ nói:

– Anh em có làm chỗ nấu bếp ngoài kia. Có cả đồ nấu ăn nữa. Kể cũng cảm động. Lũ có vợ lên thăm hăng hái đã đành. Lũ độc thân và lũ bị vợ bỏ mà cũng hăng hái sửa sang cho nhà “hợp cẩn” này, trông cảm động và tội nghiệp lắm. Được thấy người khác hạnh phúc cũng là một thứ hạnh phúc. Anh đâm ra yêu đời hơn. Trước đây cứ tưởng người ta ưa tìm hạnh phúc bằng cách làm khổ nhau.

– Thôi, đừng triết lý vụn nữa. Anh dẫn em ra chỗ bếp đi. Cầm theo cho em hai cái gói kia. Anh có đem cái ca nhựa ra à? Tốt. À, còn cả cái mền nữa. Có giặt không đấy?

– Có chứ. Nhờ sau này làm rẫy anh ra suối tắm giặt đều. Sạch như ly như lau. Em muốn khám không?

– Thôi ông ơi! Cứ nhắc chuyện đó hoài, em có quên đâu.

Hai vợ chồng nấu một ca mì nóng, pha một ca cà phê nguyên chất rồi bưng trở lại phòng. Quỳnh Trang trải tờ Nhân Dân ra liếp, bày thức ăn nàng mua sẵn bên ca cà phê và ca mì. Quỳnh Trang than:

– Chen lấn quá mấy miếng thịt heo quay bị nát ra. Câ gói xôi cũng dẹp lép. Anh không thể tưởng tượng bây giờ đi lại khó khăn như thế nào.

Ngữ đem cái bình hoa ra đặt giữa tờ báo, nghiêng đầu ngắm nghía rồi nói:

– Thơ mộng lắm. Y như đêm hợp cẩn.

Quỳnh Trang chợt nhớ vội hỏi:

– À, có đèn thắp tối nay không?

– Cần gì đèn. Em thích để đèn sáng à. Thôi thôi, anh không phạm húy nữa. Có đèn đấy. Anh em đã lo đủ mỗi phòng một cái đèn. Ủa, em có đem theo cả đũa và muỗng à. Sao không đem theo chén?

– Em ghi vào giấy rồi, nhưng lơ đãng thế nào quên mất. Anh ngồi xuống đi. Không biết ở nhà con nó có khóc không. Hồi sáng em đi sớm một phần cũng sợ nó đòi theo.

***

Ban đầu hai vợ chồng còn ngại những cặp vợ chồng ở phòng bên nghe thấy, lắng tai theo dõi động tịnh bên này. Họ ôm hôn nhau trong yên lặng, sờ soạng vuốt ve nhau cho thỏa dồn nén, nhớ thương nhưng cố dồn nén những tiếng thở dốc nóng hổi, những lời nũng nịu thiết tha. Về sau cả Ngữ lẫn Quỳnh Trang đều quên hết mọi sự, cơn ái ân đầu tiên vồ vập nhanh chóng vừa chấm dứt chưa bao lâu lại bắt đầu một cơn ái ân khác, lần này thong thả từ tốn hơn, do đó cả hai được nhẩn nha tận hưởng nhiều hơn cái khoái cảm của nhục dục. Quỳnh Trang muốn tắt đèn đi nhưng Ngữ không chịu. Quỳnh Trang chiều chồng, lúc đầu cứ nhìn về phía ngọn đèn, liếc về phía bên vách ngăn, lo âu kéo tấm chăn lên đắp thân thể. Về sau, nàng bị xúc cảm cuốn đi, chẳng những không khó chịu vì ánh đèn mà còn nhờ ánh đèn quan sát những biến đổi đam mê trên khuôn mặt Ngữ. Và nhìn Ngữ đam mê cũng là một cách khác để chính Quỳnh Trang hưởng trọn khoái cảm của đam mê. Nàng không còn cắn lấy môi dưới để che giấu xúc động như những lúc bình thường. Ngữ ngắm vợ ngửa mặt trên màu áo gối xanh, mắt nhắm nghiền, đôi môi mở lớn và cả tấm thân trắng nuốt oằn lên quằn quại trong đôi tay mình, chưa bao giờ thấy Quỳnh Trang sống thật trọn vẹn như đêm hôm ấy.

Khoảng cách những cuộc ân ái ngày càng dài hơn, dành thêm thì giờ cho họ thủ thỉ nói chuyện. Ngữ hỏi:

– Mấy hôm nay nghe mấy bà vợ tụi bạn vào thăm than ngoài đó khổ lắm. Nhà mình ra sao? Lần gửi quà Tết năm ngoái em bảo gia đình ta vẫn yên ổn, việc buôn bán cũng khá. Đúng vậy không?

Quỳnh Trang nói dối chồng:

– Nhà mình vẫn bình thường. Nhờ có anh Tường việc buôn bán của me và em vẫn như cũ. Anh thấy em có ốm đi không?

Ngữ đưa tay vuốt ve khắp thân thể vợ, làm như phải rà lại thực tế rồi mới trả lời:

– Có hơi ốm hơn trước. Nhưng vẫn đẹp.

Quỳnh Trang giữ tay Ngữ lại, trách:

– Anh, đừng phá em nữa. Đi lấy cho em cái khăn.

Ngữ ngồi dậy làm theo lời vợ. Lúc Quỳnh Trang đưa tay nhận cái khăn ướt, Ngữ hỏi:

– Sao mà bàn tay em bị xước hết cả thế? Em đi nắng nhiều lắm sao mà da từ cùi chỏ trở xuống đen xạm thế kia?

Quỳnh Trang cười:

– Đến bây giờ anh mới thấy à? Không! Chỉ tại em mặc áo sơ mi cụt tay đó thôi.

– À, anh hỏi để rồi quên không kịp hỏi. Em vừa nhắc tới anh Tường. Em có hiểu vì sao anh đóng ngoặc kép hai chữ “cảm ơn” không?

Quỳnh Trang buồn rầu đáp:

– Có. Em đoán trong này anh đọc báo. Họ có làm khó dễ gì anh không?

– Anh bị khổ sở một thời gian, nhưng cuối cùng cũng tai qua nạn khỏi. Tại sao anh Tường lại viết như vậy?

– Em không hỏi thẳng, nhưng Nam nó nói với em là ảnh ở thế kẹt. Nam có gửi quà cho anh, nhưng em sợ nặng chỉ nhận gói xôi và tút thuốc lá. Ban đầu em cũng giận lắm. Hai vợ chồng anh ấy bây giờ sống cũng cực. Lương công nhân viên không đủ vào đâu cả.

– Em thường gặp con Nam không? Bên nhà má ra sao?

– Anh Tường ít ghé nhà, nhưng em và Nam tuần nào cũng gặp nhau. Anh Tường về là bị thầy me cằn nhằn, ảnh đâm ngại. Lâu lâu Nam ghé mượn tiền. Em thương nó ghê! Bên nhà thì vợ chồng con Quế sắp ra ở riêng. May mà thằng Lãng vừa về, chứ nếu không chắc con Quế không nỡ bỏ má ở một mình.

– Thằng Lãng đi đâu mà về?

Quỳnh Trang định nói thật, nhưng kịp nghĩ lại, chỉ đáp:

– Nó được đi học trường cải tạo công nông nghiệp Duyên hải.

Ngữ bật cười:

– Tướng thằng Lãng mà “cải tạo công nông nghiệp”. Bộ Cách mạng họ hết người chọn hay sao mà cử nó đi.

Quỳnh Trang cố lái sang chuyện khác:

– Anh, kỳ này em có tìm mang lên cho anh cái truyện ngắn anh viết hồi đầu. Truyện “Vòng hoa dành cho ngài lãnh tụ”, anh nhớ không? Anh mang cái truyện này đưa nộp cho Ban Quản giáo. Nhiều khi họ thấy anh viết chỉ trích chế độ cũ như thế, sẽ cho anh về sớm. Anh thử đi! Biết đâu cái truyện từng gây phiền hà cho anh bây giờ lại cứu anh! Anh, có nghe em nói không?

Ngữ đáp:

– Chưa chắc đâu. Nhiều khi chuyện viết lách của anh đã tạm êm rồi, bây giờ đưa cho họ coi, thì chuyện cũ lại bị moi ra cân đo đong đếm trở lại.

Quỳnh Trang vội nói:

– Chưa thử sao anh đã bi quan vậy. Em đọc báo thấy bây giờ họ đã bớt cái giọng gay gắt sắt máu khi nhắc tới văn nghệ Mỹ Ngụy. Em có đem theo tờ Nhân Dân cho anh đọc đây. Tờ báo em lót làm mâm đó. Anh thử đọc bài ở trang hai đi. Không. Đọc ngay bây giờ rồi cho em biết anh có định nộp cái truyện ngắn cho họ không. Cứ thử mọi cách đi anh!

Quỳnh Trang nhổm dậy mặc lại quần áo, hỏi chồng:

– Nhà cầu ở đâu hở anh?

Ngữ nói:

– Phía bên phải dãy láng này. Để anh đưa em đi.

Quỳnh Trang ngăn lại:

– Thôi em tự đi được rồi. Anh ra chỉ cho em chỗ nhà cầu, anh đọc cho xong tờ báo đi.

Ngữ chỉ chỗ các tù cải tạo làm nhà cầu tạm cho thân nhân, rồi trở vào đem tờ Nhân Dân đến gần đèn để đọc. Đọc được vài dòng Ngữ không muốn đọc nữa, vẫn bấy nhiêu lập luận về các di hại của văn hóa văn nghệ cũ, giọng điệu không nhẹ nhàng gì hơn bài phát biểu của Trần Bạch Đằng mà Ngữ đã nghe được ở Long giao.

Chán nản, Ngữ chuyển qua đọc những bài khác. Trong phần tin tức địa phương, Ngữ lược qua những thành tích vượt chỉ tiêu, cuối cùng chú ý tới một bài tin ngắn chỉ đăng có một cột báo. Tin Tòa án Nhân dân tỉnh Phú khánh đưa ra xử một nhóm cán bộ tỉnh toa rập nhau ăn cắp tài sản Nhà nước, đầu đảng là một cán bộ ngành vật tư lãnh án 5 năm tù, tòng phạm là một cán bộ thương nghiệp lãnh án 3 năm. Ngữ thấy mình vui sướng một cách hơi tiểu tâm, mỉm cười nghĩ thầm: “Chúng nó cũng không hơn gì. Vậy mà nói hươu nói vượn mãi về con người mới xã hội chủ nghĩa”.

Đột nhiên Ngữ xanh mặt kinh ngạc. Ở cuối bản tin tờ báo có viết thêm một đoạn ngắn, cho biết Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Phú khánh xử khiếm diện một năm tù ở cho một tòng phạm khác đang tại đào. Tòng phạm này tên là Trần thị Diễm, người móc ngoặc hủ hóa cán bộ bằng tiền bạc và sắc đẹp, và Viện Kiểm sát Nhân dân đã ra lệnh truy nã y thị.

Ngữ hỏi thầm: Có phải Diễm không? Đúng là tên họ và chữ lót của Diễm, nhưng không có lý. Diễm không phải là một tên hiếm hoi của giới phụ nữ, cũng như những tên Hoa, Lan, Mai, Huệ, Nguyệt, Liễu, Vân, Cúc…Thiếu gì người Việt họ Trần. Có lẽ một người nào khác chứ không phải Diễm. Diễm ở Sài gòn, còn đây là một vụ án ở Nha trang. Nhất định, nhất định không phải Diễm.

Quỳnh Trang đẩy tấm cửa liếp bước vào, tuy than bên ngoài trời lạnh nhưng nụ cười trên môi thật tươi, ánh mắt sáng. Nàng thấy Ngữ còn đang cầm tờ Nhân Dân, đến ngồi sà bên cạnh hỏi:

– Anh đọc hết chưa?

Ngữ vội đáp:

– Rồi… Vẫn cái giọng hằn học gọi người viết ở Miền Nam là bồi bút, là tay sai có hơn gì trước đâu.

Quỳnh Trang không tỏ gì ngạc nhiên, mỉm cười hỏi thêm:

– Anh có đọc những bài khác không?

Câu hỏi của vợ khiến Ngữ tỉnh ngộ. Chàng hiểu ra hết: đúng là Diễm đang bị tầm nã, và Quỳnh Trang chịu khó mang tờ Nhân Dân lên đây, giả vờ vô tình lấy báo lót làm mâm, giả vờ bảo Ngữ đọc bài nhận định văn học ở trang hai chỉ cốt để Ngữ đọc cái tin về Diễm.

Ngữ nhìn vợ dò xét, thấy Quỳnh Trang đang cười tươi, càng tin điều mình đoán là đúng. Ngữ nói:

– Mấy cái tin khác đều là những lời ba hoa tỉnh này thu hoạch gấp đôi năm ngoái, huyện kia đạt chỉ tiêu thi đua. Chán chết!

Quỳnh Trang không kiên nhẫn được nữa, nôn nóng hỏi:

– Anh chưa đọc tin con Diễm bị tù à?

Ngữ lỡ giả vờ, đành phải vờ tiếp:

– Thật à, đâu? Trang nào?

Ngữ đọc lại cột báo đã đọc tới hai lần. Không chờ chồng hỏi, Quỳnh Trang nói:

– Em ngờ không biết có phải là con Diễm không, vì trước đó có nghe anh Ngô nói chuyện con Diễm làm ăn lớn ngoài Nha trang hồi năm ngoái.

– Ủa, thằng Ngô về lại Sài gòn hồi nào?

– Ba tháng nay rồi. Anh ấy xin đổi về Nam không được, bỏ việc về sống lang thang ở Sài gòn.

– Rồi nó làm gì để sống?

– Phần lớn gia đình bác Bỗng sống nhờ vào con Diễm. Anh Ngô chỉ vẽ guốc qua loa kiếm tiền cà phê thuốc lá, không có hộ khẩu Sài gòn, tìm việc gì được.

– Nhưng thằng Ngô xác nhận với em đúng là Diễm?

– Chính con Diễm. Nó ẩn mặt từ hai tháng nay mà em đâu có biết. Đến khi hỏi ra, em mới ngã ngửa. Không ngờ nó bạo gan đến thế. Nghe nói nó “đi” với hết ông cán bộ này đến ông cán bộ khác, tiền bạc xài như nước, xăng lên giá đến chiếc Honda của em cũng phải xếp xó không dám chạy, còn nó thì vẫn lái chiếc Simca đi phom phom. Anh thấy báo Nhân Dân nói không? Nó dùng sắc đẹp mồi chài mấy thằng dại gái. Đi đêm lắm thì phải có ngày gặp ma. Của phi nghĩa có bền đâu.

Ngữ thấy vợ có vẻ hả hê và hằn học đối với tai nạn của Diễm, biết Quỳnh Trang ghen tuông nên không dám nói gì. Quỳnh Trang hỏi:

– Anh liệu nó có trốn mãi được không?

– Anh đâu biết gì bên ngoài mà liệu với đoán.

– Em hỏi anh Ngô thì anh ấy nói cũng chẳng có gì đáng sợ, một mình con Diễm nó tự dàn xếp được. Anh Ngô gửi lời thăm thầy. Thầy chịu anh Ngô lắm. Tại ảnh chửi bới tùm lum, chửi bới thật chứ không phải để làm vừa lòng thầy. Đến nỗi một hôm anh Tường bực, bảo ảnh nên cẩn thận, tụi Công an muốn ra tay thì chỉ cần thi hành lệnh truy nã đào nhiệm hay bắt ảnh về tội cư trú bất hợp pháp, là ảnh kẹt. Biết anh Ngô trả lời anh Tường sao không?

– Sao?

– Ảnh nói nghề của ảnh là phát thanh. Không còn được nói vào micro nữa thì ảnh phải nói ngoài đường phố, vỉa hè, quán cà phê. Ảnh lập đài riêng vì không còn lãnh lương Nhà nước nữa, khỏi phải theo lệnh của Nhà nước.

Ngữ cười:

– Cái thằng, bao nhiêu năm mà cái tính cộc ngày xưa vẫn vậy.

Quỳnh Trang không muốn bị dẫn đi xa đề, quay trở lại chuyện Diễm:

– Kể ra số con Diễm cũng lao đao. Tại bản tính nó vậy. Lăng xăng cho lắm rồi bây giờ chồng một nơi, con một nơi. À, còn chuyện thằng con con Diễm nữa. Em mới nhận được thư con Quỳnh Như. Hiện Quỳnh Như đem thằng Thuận con con Diễm về nuôi. Nó viết cái gì mù mờ em không hiểu gì cả. Em có đem thư con Như cho anh đây.

Ngữ lo lắng đến lịm người, ngồi chờ vợ đi lục xắc lấy thư. Quỳnh Trang biết chuyện bí mật rồi sao? Nam kể cho Quỳnh Trang nghe hay chính lá thư này nói hết mọi sự. Ngữ nhớ có căn dặn em là nên giấu kín những gì Diễm tâm sự trong những ngày tuyệt vọng. Nam biết thế nên không hề mở miệng nói với ai, giữ lời hứa với anh. Ngữ rất nóng ruột nhưng vẫn làm ra vẻ nhẩn nha, chậm rãi dở lá thư Quỳnh Như ra đọc.

Quỳnh Như viết cho chị:

San Francisco ngày…

Những lá thư chị gửi em mấy tháng gần đây “hình như”’ em đã nhận đủ. Để em kể xem có phải em đã nhận được tất cả số thư chị gửi hai năm nay không; một lá tháng 12 năm 1976, một lá tháng 3 năm 1977, một lá tháng 5 năm 1977, lá cuối cùng chị viết hồi tháng 10. Chị nói quanh co nhưng em cũng đoán được tình hình bên nhà ra sao. Nhiều hôm cuối tuần đem thư chị và thư thầy me ra đọc, em buồn đến lịm người rã rời, không còn thiết gì nữa. Dale trách em không còn ngó ngàng tha thiết gì tới anh ấy hết. Em khóc, bảo anh ấy là người ngoài, nên sau “cơn mê Việt Nam” một thời gian dần dần tỉnh lại, bắt đầu sống như một người Mỹ bình thường. (Anh ấy chỉ còn chăm lo làm ăn, văn phòng địa ốc của Dale hiện nay đứng vào hàng nhất nhì tại Berkeley). Còn em, một hơi thở của em đã là Việt Nam, dù em sống ở đâu lúc nào trái tim em cũng đập theo nhịp vui buồn, hân hoan hay tủi nhục của quê hương. Làm sao được! Em không biết Dale còn chịu đựng được em cho tới bao giờ. So với những người Mỹ bình thường ở đây, sức chịu đựng của Dale như vậy là quá mức rồi. Nhiều bà bạn của Dale cứ thắc mắc tại sao vợ chồng em cứ tiếp tục đời sống vợ chồng quái dị như vậy. Thú thực đôi lúc em cũng lo mất Dale. Nhưng biết làm sao hơn, hở chị?

Cái khó cho em với Dale là hai vợ chồng không thể có con với nhau. Em giấu không cho thầy me và chị biết tin buồn này suốt hai năm nay, bây giờ em mới nói. Mấy năm đầu, hai đứa bàn tính với nhau là phải giữ gìn để khỏi có con sớm. Bên này có con nhỏ là cả một gánh nặng, không đơn giản như bên mình. Hai đứa giữ đúng thỏa hiệp, em không mang thai và cứ nghĩ là do giữ gìn cẩn thận mới được kết quả đó. Đến lúc vợ chồng em quyết định có con, thì chờ mãi không thấy gì. Mỗi lần em chậm kinh nguyệt vài ngày, Dale hí hửng đến tội! Hí hửng để rồi thất vọng. Chờ mãi đâm nghi, em và Dale đi hỏi bác sĩ. Họ bảo theo những từ ngữ y khoa gì gì đó em không hiểu, cả em lẫn Dale đều không có gì bất thường. Nhưng do máu huyết của em và của Dale không hợp nhau (họ giải thích rành rẽ khoa học hơn chứ không phải như em viết đâu) nên, không bao giờ em và Dale có con với nhau được. Dale lấy bà vợ khác, em lấy chồng khác, thì may ra. Dale thấy em khóc có thề là không bao giờ vì chuyện con cái mà xa em. Dale nói thêm: “Trừ trường họp chính Như đổi ý”. Đấy, tình cảnh gia đình của em như vậy. Chị đừng nói lại với me làm gì. Me chỉ thêm lo.

Em và Dale đã nạp đơn ở tòa án để xin nhận một đứa con nuôi. Một đứa con nuôi Việt Nam chứ không phải Mỹ đâu. Chị biết con của ai không? Con của Diễm đấy! Ông Ngọc anh Diễm vừa lấy được giấy phép hành nghề tại tiểu bang California, mới mở văn phòng khám bệnh tại khu phố Tàu San Francisco. Em đến nhà họ thăm mới biết lâu nay ông Mân không ngó ngàng gì tới thằng bé cả, giao khoán cho vợ chồng Ngọc lo. Em có hỏi ông Ngọc vì sao cha thằng Thuận không nuôi con mà lại giao cho cậu. Ngọc bảo thế này, chị có tin được không? Ngọc bảo ông Mân nói thằng bé không phải là con ông ấy, ông ấy không có trách nhiệm gì cả. Chị thấy tình người đã bạc chưa. Con Diễm lấy ông Mân là cả một lầm lẫn lớn. Thật là con người chẳng ra gì. Diễm rủi kẹt lại, dù lão cặp với người khác nhưng nếu còn chút lương tâm cũng phải lo cho đứa con, đằng này lại nghe lời con vợ mới hạ nhục Diễm để phủi trách nhiệm. Thằng bé dễ thương lắm, em trông nó vô tư cười đùa mà bất nhẫn, chỉ sợ tới tuổi khôn lớn nó biết cha nó bạc như thế nó sẽ đau khổ đến mức nào. Em và Dale đi lại thăm nom vợ chồng Ngọc ít lâu lại biết thêm một điều đáng buồn hơn: là bà vợ Ngọc cũng không muốn nuôi cháu. Em bàn với Dale, hai vợ chồng đồng ý lập thủ tục để xin nhận thằng Thuận làm con nuôi. Khi nào Diễm qua được đây, vợ chồng em sẽ giao thằng bé lại cho Diễm. Chị có gặp Diễm thì nói với nó như thế. Em nhớ những đêm hai chị em nằm tâm sự trước ngày Diễm đi lấy chồng, thấy thương nó quá. Chị nói với Diễm là em sẽ chăm sóc thằng Thuận như là chính Diễm lo cho con. Còn lão Mân thì hãy coi như chết đi, đừng thèm nghĩ tới nữa. Chị nói Diễm viết thư cho em, sau đó em sẽ giải thích cặn kẽ cho Diễm biết các thủ tục pháp lý bên này.

Việc cuối cùng em muốn báo cho thầy me và chị biết, là em đã liên lạc được với chị bạn bên Paris để nhờ chị ấy mua thuốc Tây gửi về cho thầy me và chị. Chị bạn vừa bảo cho em tin mừng là hãng Hàng không Air France đã bắt đầu nhận chở quà của người Việt gửi về cho thân nhân tại Việt Nam. Chắc chắn thời gian đầu có nhiều trục trặc, họ phải chờ đủ hàng mới chở một chuyến nên có lẽ vài ba tháng nữa chị mới nhận được giấy báo lãnh hàng. Khi nhận thuốc xong, chị đi bán được bao nhiêu cho em biết để em xem gửi những gì có lợi. Em không muốn lấy tiền của Dale vì gần đây bà cụ đâm khó tính, sắc mắc dò xét em từng chút, lương em làm không nhiều, nhưng chị đừng áy náy, em đủ sức dành dụm tiền hàng tháng để giúp đỡ gia đình. Đọc những lời bóng gió xa xôi của chị, em hiểu, và xót xa không ngủ được. Niềm vui bây giờ của em là cố làm thêm nhiều giờ phụ trội lấy tiền giúp đỡ gia đình. Ít ra nhờ vậy đời em còn có ích…”

Ngữ hoàn hồn vì lá thư không có gì nguy hiểm. Quỳnh Trang chờ chồng đọc xong, hỏi liền:

– Anh nghĩ sao? Theo anh thì ông Mân nói thật hay nói dối?

Ngữ cố trấn tĩnh đáp:

– Dĩ nhiên là nói dối. Tính thằng đó, em còn lạ gì?

Quỳnh Trang nói:

– Biết đâu ông Mân nói thật. Tính con Diễm lẳng lơ, em còn lạ gì. Em không quên được hôm đám cưới tụi mình, nó còn dám cười cợt ỏn ẻn với anh ngay trước mặt em.

Ngữ nói át đi.

– Thôi, chuyện nhà thiên hạ quan tâm làm gì. Ba giờ sáng rồi, em rán ngủ được một lúc lấy sức mai còn về. À đưa cái truyện ngắn “Vòng hoa…” liền bây giờ cho anh, mai sợ em quên.

___________________________

Trang sau »

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.